Chức năng của sắt trong cơ thể là gì ?
Sắt rất quan trọng cho nhiều quá trình sinh lý của cơ thể, đặc biệt là trong quá trình vận chuyển ô-xy. Đó là chất cấu thành huyết sắc tố, chính huyết sắc tố này cấu tạo thành hồng cầu - hồng cầu được sản sinh trong tủy xương. Huyết sắc tố chiểm 70% lượng sắt trong cơ thể, 20% trong các tế bào cơ, đặc biệt trong myoglobine.
Sắt không được sử dụng sẽ được dự trữ dưới dạng liên kết với ferritine. Nơi dự trữ chính là gan và các đại thực bào. Sắt dự trữ có thể được sử dụng khi nhu cầu sắt của cơ thể lên cao như trẻ đang phát triển, phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú.
Vì sắt có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất hồng cầu nên bất thường về chuyển hóa sắt sẽ dẫn đến thiếu máu thiếu sắt (tức là lượng huyết sắc tố dưới mức bình thường: bình thường là 13g/dl ở nam, 12g/dl ở nữ và 11g/dl ở phụ nữ mang thai).
Sắt từ đâu đến ?
Thực phẩm
Quá trình chuyển hóa hồng cầu
Sắt từ thức ăn phải được hấp thu bởi cơ thể. Quá trình hấp thu này diễn ra ở ruột non và đặc biệt là ở tá tràng.
Tại sao lại thiếu sắt?
Thông thường ở những người có sức khỏe tốt, luôn có sự cân bằng giữa cung cấp và tiêu thụ. Sự cân bằng này có thể mất đi do nhiều lý do: hoặc do thiếu cung cấp, hoặc do giảm hấp thụ, tăng tiêu thụ, hoặc do tăng nhu cầu (tăng trưởng, mang thai).
Mất sắt có thể do:
Mất máu sinh lý: mất theo phân, bong tế bào, hành kinh ở phụ nữ.
Liên quan hoặc không liên quan đến mất máu do bệnh lý : chảy máu tiêu hóa, phụ khoa.
Xác định thiếu sắt bằng cách xét nghiệm máu các chất chỉ điểm chuyển hóa sắt.
Dấu hiệu lâm sàng của thiếu máu là gì?
Các dấu hiệu thường khác nhau. Thiếu máu có thể được biểu hiện qua: mệt mỏi, thở dốc, xanh xao, choáng váng, hồi hộp, rụng tóc…
Cách duy nhất để chẩn đoán thiếu máu là làm xét nghiệm máu để xem lượng huyết sắc tố trong cơ thể.
Điều trị thiếu máu do thiếu sắt nhẹ như thế nào ?
Bác sĩ của bạn sẽ kê thuốc sắt qua đường uống từ 3-6 tháng. Đồng thời cần điều trị tận gốc nguyên nhân thiếu máu, thí dụ làm ngừng chảy máu đâu đó.
Lượng sắt trung bình cần thiết hàng ngày là bao nhiêu?
Nhu cầu này thay đổi theo độ tuổi, giới tính, phụ nữ mang thai hoặc phụ nữ cho con bú
Những thực phẩm nào nhiều sắt?
Những thực phẩm nhiều sắt như dồi, gan, và thịt đỏ. Chúng ta phải biết rằng lượng sắt chúng ta ăn vào chỉ được hấp thụ một phần. Điều này phụ thuộc một phần vào khả năng hấp phụ sinh học của chúng. Người ta phân biệt:
Sắt “hem”, có trong huyết sắc tố và myoglobine của các sản phẩm từ thịt. Sắt “hem” có khả năng hấp thụ cao (từ 20 đến 30%).
Sắt không “hem” có trong ngũ cốc, rau khô, hoa quả, rau và các chế phẩm từ sữa. Sự hấp thụ loại sắt này rất thay đổi và phụ thuộc vào thành phần bữa ăn. Một vài yếu tố kích thích hoặc cản trở cơ chế hấp thụ sắt không “hem”. Tùy thuộc vào cơ chế hoạt động của những yếu tố này, việc hấp thu sắt từ bữa ăn có thể dao động từ 1 đến 20% với những cá nhân có lượng sắt có thể so sánh được. Thịt, cá, axít ascorbique (Vitamine C), kích thích việc hấp thụ sắt không “hem”. Ngược lại, Polyphenols trong đó có tanin, phytates và một số dạng proteins và nhiều loại thực phẩm có xơ cản trở việc hấp thu sắt không “hem”. Trong số các thực phẩm có chứa các chất gây ức chế mạnh việc hấp thụ sắt này có trà và cà phê.
Như vậy tùy vào thành phần của bữa ăn, người ta có thể coi hệ số hấp thụ sắt dao động từ 5% (đối với những bữa ăn đơn giản từ ngũ cốc hoặc rau củ, nghèo dinh dưỡng và vitamin C) đến 15 % (đối với những bữa ăn giàu dinh dưỡng và vitamin C).
Nhiệt độ và huyết áp có mối quan hệ nghịch đảo, nghĩa là khi nhiệt độ tăng, huyết áp sẽ giảm.
Việc cho cà phê vào sữa chua là công thức kháng viêm tự nhiên, giàu protein, giàu lợi khuẩn tốt cho đường ruột. Đây là một cách đơn giản bạn có thể áp dụng để chủ động phòng bệnh đường ruột.
Việc đẩy mạnh hoạt động thể thao mùa hè cho trẻ em là giải pháp khoa học nhằm thay thế thói quen sử dụng thiết bị điện tử và giảm áp lực học tập. Vận động ngoài trời không chỉ tăng cường sức bền mà còn kích thích hormone tăng trưởng, hỗ trợ phát triển hệ xương khớp tối ưu, đặc biệt là cải thiện chiều cao trong giai đoạn dậy thì.
Những thành tự nghiên cứu về Bộ gen người vào năm 2003 đã mở ra cánh cửa hiểu biết sâu rộng về di truyền con người. Tuy nhiên, bộ mã DNA không thể giải thích được toàn bộ sự phức tạp về sức khỏe và bệnh tật của từng cá nhân. Di truyền ngoại gen (hay còn gọi là Epigenetic) là một lĩnh vực nghiên cứu các thay đổi trong biểu hiện gen mà không làm thay đổi trình tự DNA. Đây hiện đang là một chủ đề được bàn tán nhiều trong những năm gần đây khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe cá nhân ngày càng gia tăng.
Nước ép bưởi mang lại nhiều lợi ích như cấp nước, hỗ trợ tiêu hóa và giảm nguy cơ bệnh. Tuy nhiên, loại đồ uống này cũng tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt với một số đối tượng cần thận trọng khi sử dụng thường xuyên.
Dâu tằm là loại quả dân dã nhưng giàu dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng chất chống oxy hóa dồi dào có lợi cho sức khỏe, nhất là với một số nhóm người cụ thể.
Trầm cảm kháng trị xảy ra khi các triệu chứng của một người không cải thiện sau khi đã thử ít nhất hai loại thuốc chống trầm cảm khác nhau. Một nghiên cứu gần đây đã điều tra tác động của chế độ ăn ketogenic ít carbohydrate đối với người lớn mắc chứng trầm cảm kháng trị.
Dù sống ở vùng nhiệt đới ngập tràn ánh nắng, tỷ lệ thiếu hụt vitamin D ở trẻ em Việt Nam vẫn đang ở mức báo động. Được ví như "chìa khóa" cho tầm vóc và hệ miễn dịch, việc lãng quên dưỡng chất vàng này đang để lại những hệ lụy sức khỏe kéo dài đến tận tuổi trưởng thành.