Có một số thuốc dùng điều trị bệnh thông thường, đôi khi không cần đơn của bác sĩ nhưng lại có tác dụng phụ trên tim mạch như gây tăng huyết áp, nhịp tim nhanh... Nếu dùng sẽ làm trầm trọng thêm bệnh tim mạch vốn có của người bệnh, thậm chí gây nguy hiểm tới tính mạng. Vậy đó là các thuốc nào?
Thuốc điều trị nghẹt mũi
Nghẹt mũi là triệu chứng rất thường gặp. Các thuốc thông mũi sẽ làm giảm triệu chứng của nghẹt mũi do dị ứng hay cảm lạnh thông thường. Thuốc sẽ giúp co niêm mạc mũi qua hiệu ứng co mạch của thuốc. Hai thành phần dùng đường uống trị nghẹt mũi là pseudoephedrine và phenylephrine.
Pseudoephedrine là thuốc giống thần kinh giao cảm chống sung huyết mũi đường toàn thân, còn phenylephrine là thuốc cường giao cảm alpha 1. Cả hai thuốc này đều có tác dụng co mạch, chống sung huyết mũi nhưng lại gây tăng huyết áp và làm rối loạn nhịp tim.
Cụ thể, pseudoephedrin có tác dụng chống sung huyết từ từ nhưng kéo dài giúp làm co niêm mạc bị sung huyết ở đường hô hấp trên. Thuốc được dùng để giảm các triệu chứng đi kèm với viêm mũi dị ứng và chứng cảm lạnh thông thường bao gồm nghẹt mũi, hắt hơi, chảy mũi, ngứa và chảy nước mắt… nhưng lại có tác dụng phụ là làm nhịp tim nhanh và tăng huyết áp.
Phenylephrine ngoài tác dụng gây tăng huyết áp thì lại gây nhịp tim chậm do phản xạ, làm giảm thể tích máu trong tuần hoàn, giảm lưu lượng máu qua thận cũng như giảm máu vào nhiều mô và cơ quan của cơ thể (nên không dùng cho người bệnh tim mạch nặng, nhồi máu cơ tim, bệnh mạch vành, tăng huyết áp nặng…).
Đối với các thuốc nhỏ, xịt tại chỗ (ví dụ oxymetazolin, phenylephrine và naphazolin), do có tác dụng làm co mạch nên cũng có cảnh báo không sử dụng cho bệnh nhân có bệnh tim và huyết áp cao, do dược chất có thể được hấp thu vào máu và gây tác dụng toàn thân, có thể nguy hiểm cho người bệnh.
Vì vậy, nếu bị tăng huyết áp hay bị bệnh về tim mạch, người bệnh nên hỏi bác sĩ trước khi dùng bất cứ dạng thuốc nào trị nghẹt mũi. Vì hầu hết các thuốc co mạch làm thông mũi (uống, xịt, nhỏ, hít) đều có nguy cơ làm tăng huyết áp, trong đó, pseudoephedrine và phenylephrine là hai thành phần đáng lưu tâm nhất. Người bệnh cũng nên tránh dùng các thuốc ho, các thuốc trị cảm cúm đa thành phần có chứa một loại thuốc thông mũi. Thành phần chống dị ứng (chlopheniramin) hay thuốc ho (dextromethorphan) có trong các thuốc này cũng là thủ phạm gây tăng huyết áp.
Thuốc trị hen suyễn
Một số thuốc dùng trong điều trị hen suyễn như ephedrin, epinephrine… cũng có tác dụng phụ trên tim mạch. Ephedrin được dùng đề phòng co thắt phế quản trong hen. Với liều điều trị, thuốc làm tăng huyết áp do tăng lưu lượng tim và co mạch ngoại vi, nhịp tim nhanh có thể xảy ra.
Còn epinephrine được dùng phối hợp với thuốc chống hen. Trên tim - mạch, adrenalin có tác dụng làm tăng tần số và tăng lực bóp cơ tim; làm tăng thể tích tâm thu và mức tiêu thụ oxy của cơ tim, tăng lưu lượng mạch vành, tăng sức cản ngoại vi gây tăng huyết áp tâm thu. Vì vậy, thuốc không dùng cho người bị bệnh tim mạch nặng, tăng huyết áp.
Thuốc giảm đau, chống viêm
Các thuốc như ibuprofen, naproxen… cũng mang theo một cảnh báo không được sử dụng đối với bệnh nhân có bệnh tim hoặc tăng huyết áp. Ibuprofen và naproxen đều là thuốc chống viêm giảm đau không steroid. Thuốc có thể gây ra những vấn đề về tim, đe dọa tính mạng hoặc các vấn đề lưu thông như cơn đau tim hoặc đột quỵ, đặc biệt là nếu sử dụng nó lâu dài. Nguy cơ đau tim hoặc đột quỵ có thể tăng nếu bệnh nhân sử dụng ibuprofen, naproxen với số lượng lớn hơn hoặc lâu hơn so với khuyến cáo.
Để an toàn khi dùng thuốc, người bệnh cần nói với bác sĩ nếu mình có tiền sử nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc cục máu đông, bệnh tim, suy tim sung huyết, tăng huyết áp… Trên nhãn thuốc cũng cảnh báo bệnh nhân rằng thuốc ibuprofen và naproxen không được uống “ngay trước hoặc sau khi phẫu thuật tim”. Để hạ sốt, giảm đau có thể dùng acetaminophen (ví dụ tylenol) vì đây là thuốc không có cảnh báo liên quan đến tim mạch, huyết áp.
Tóm lại, đối với bệnh nhân tim mạch, tăng huyết áp khi dùng thuốc điều trị các bệnh thông thường, đặc biệt là các thuốc không kê đơn cần hết sức lưu ý. Cần kiểm tra nhãn thuốc, đọc kỹ các thành phần có trong thuốc và các cảnh báo, thận trọng khi dùng trong hướng dẫn sử dụng thuốc để tránh dùng những sản phẩm gây bất lợi cho bệnh của mình.
Khi đi mua thuốc, cần nói rõ tình trạng bệnh tim mạch, huyết áp để dược sĩ có thể lựa chọn các sản phẩm thay thế làm giảm bớt triệu chứng của các bệnh thông thường mà không có nguy cơ sức khỏe liên quan đến vấn đề về tim mạch hay huyết áp của bệnh nhân.
Uống trà dâm bụt đều đặn suốt cả ngày có thể giúp hạ huyết áp, đặc biệt là đối với những người bị tăng huyết áp giai đoạn. Việc tạo thói quen uống hai tách trà trở lên mỗi ngày có thể tăng cường hiệu quả của nó .
Bổ sung đủ vitamin A không chỉ giúp "thắp sáng" đôi mắt mà còn thiết lập một hàng rào miễn dịch vững chắc cho toàn bộ cơ thể.
Theo thống kê của Phân hội tăng huyết áp Việt Nam, số người bị tăng huyết áp gia tăng nhanh và ngày càng trẻ hóa, cứ 4 người trên 25 tuổi thì có 1 người bị huyết áp cao, tỷ lệ 25%, một con số đáng báo động.
Bữa ăn vội vã cùng thói quen vừa ăn vừa lướt điện thoại, máy tính sẽ gây áp lực lên hệ tiêu hóa, khiến việc giảm cân khó khăn. Khi ăn chậm nhai kỹ giúp cơ thể nhận biết tín hiệu no đúng lúc, từ đó kiểm soát lượng calo nạp vào và hỗ trợ giảm cân bền vững.
Prostaglandin là các hợp chất giống hormone - “thủ phạm” gây đau bụng kinh cho phái nữ. Ngoài ra, prostaglandin cũng gây ra nhiều ảnh hưởng khác đối với cơ thể, cùng tìm hiểu về hợp chất thú vị này qua bài viết sau!
Yến mạch là lựa chọn giàu chất xơ cho bữa sáng nhưng cần ăn đúng cách và khẩu phần phù hợp để phát huy lợi ích.
Những thói quen buổi sáng có thể quyết định rất lớn đến sức khỏe và năng suất làm việc của chúng ta trong ngày. Một số thói quen này tưởng chừng vô hại, nhưng nếu không được thay đổi, chúng có thể gây ra những tác động tiêu cực cho sức khỏe về lâu dài. Thay đổi những thói quen buổi sáng phổ biến này có thể giúp bạn giữ được sức khỏe tốt hơn và năng suất cao hơn trong suốt cả ngày. Cùng tìm hiểu về 10 thói quen phổ biến vào buổi sáng gây hại cho sức khỏe qua bài viết sau đây!
Viêm đại tràng giả mạc là bệnh lý có thể xuất hiện sau khi sử dụng kháng sinh, đặc biệt khi dùng kéo dài hoặc dùng nhiều loại kháng sinh khác nhau. Bệnh thường biểu hiện bằng các triệu chứng như tiêu chảy kéo dài, đau bụng, sốt… và có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.