Khối u là một khối tế bào bất thường hình thành trong cơ thể do các tế bào phân chia một cách không kiểm soát. Khối u tim có thể hình thành ở trong tim, trong cơ tim hay bên ngoài thành tim. Đây là căn bệnh khá hiếm gặp nhưng rất nguy hiểm.
Một khối u tim có thể bắt nguồn tại tim (u nguyên phát). Hoặc có thể do di căn từ các bộ phận khác của cơ thể tới tim (u thứ phát). Ở trẻ em u thứ phát là dạng phổ biến hơn.
Khối u trong tim có thể là lành tính, thường xảy ra trên đối tượng trẻ em dưới 12 tuổi. Đôi khi u tim có thể là ác tính. Tuy nhiên trường hợp này hiếm gặp hơn. Dưới 10% u tim nguyên phát là ác tính. Khối u ác tính có thể xâm lấn và hủy hoại các mô tế bào trong cơ thể và gây ra các triệu chứng tương tự như các bệnh tim mạch khác.
Dạng u tim lành tính phổ biến nhất ở trẻ em
Rhabdomyomas là dạng u tim phổ biến nhất, tiếp theo đó là fibromas. Cả 2 loại đều là u lành tính.
Rhabdomyomas: Dạng u phát triển trong cơ tim hoặc trong lớp nội tâm mạc, thường bao gồm nhiều khối u nhỏ. Những u này thường gặp ở đối tượng trẻ dưới 1 tuổi. Thường thì không cho triệu chứng gì, tuy nhiên đôi khi có thể bao gồm xuất hiện tiếng thổi tim, loạn nhịp tim và suy tim.
Hơn 75% Rhabdomyomas thường gặp ở trẻ em có liên quan đến xơ hóa dạng củ lao (tuberous sclerosis). Đây là một bệnh về gien đặc trưng bởi những tổn thương trên da và hệ thần kinh trung ương, sự hình thành khối u và động kinh. Những khối u dạng này thường tự biến mất mà không cần điều trị và không tiến triển sang dạng ác tính. Nói chung, trẻ mắc loại u tim này có tiên lượng tốt.
Fibromas: u sợi cũng phát triển trong cơ tim và lớp nội tâm mạc, thường ảnh hưởng đến thất trái. Khi khối u lớn lên, chúng sẽ xâm lấn sang van hai lá và van động mạch chủ gây tắc hay hở van. Chúng cũng có thể gây ảnh hưởng làm loạn nhịp tim. Dạng u tim này chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ dưới 6 tuổi. Fibromas có thể cần phải phẫu thuật can thiệp.
Các dạng u tim lành tính khác
Myxomas: khối u trong tâm nhĩ, là dạng u tim phổ biến nhất ở người trưởng thành.
Tetratomas: thường hình thành trong các buồng tim.
Lipomas: khối u mô mỡ.
Dạng u tim ác tính phổ biến nhất ở trẻ em
Sarcomas: là dạng u tim ác tính cực kỳ hiếm gặp ở trẻ em, phổ biến nhất là rhabdomyosarcmas (ung thư mô liên kết).
Các khối u ác tính khác bao gồm:
Angiosarcoma: có thể hình thành ở bất cứ buồng nào của tim, nhưng chủ yếu là tâm nhĩ phải.
Fibrosarcomas: ung thư tổ chức xơ.
Liposarcomas: ung thư sarcoma mỡ ác tính.
U lympho nguyên phát.
Các dạng ít phổ biến hơn của khối u ác tính bao gồm papillary fibroelastomas, hemangiomas (u mạch máu), teratomas (u quái), lipomas (u mỡ) và u lympho. Các loại u này có thể là nguyên phát hay thứ phát.
Các triệu chứng của u tim
Đôi khi u tim không gây ra bất cứ triệu chứng nào. Trong những trường hợp khác, chúng có thể có những triệu chứng tương tự như các bệnh tim mạch hay các khuyết tật trên tim như suy tim, loạn nhịp tim.
Sự hình thành các triệu chứng của bệnh u tim phụ thuộc vào: Vị trí hình thành khối u trong tim; Kích thước khối u
Chẩn đoán u tim
Khối u tim có thể không gây ra bất kỳ triệu chứng gì, hoặc có thể dẫn tới rối loạn chức năng tim gây nguy hiểm đến tính mạng. U tim thường có triệu chứng giống với các bệnh tim mạch khác gây khó khăn cho các bác sỹ trong việc chẩn đoán đúng bệnh.
Trẻ đã bị ung thư thường bị nghi ngờ mắc bệnh u tim nhất là khi trẻ có những dấu hiệu như thở gấp, đau ngực, sưng mắt cá.
Một số phương pháp sử dụng để chẩn đoán bệnh u tim bao gồm:
Siêu âm tim để kiểm tra tổng thể khối u. Các sóng siêu âm đi qua thành ngực và cho hình ảnh cụ thể của tim.
Chụp cắt lớp (CT) và chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) thường được sử dụng sau siêu âm để chẩn đoán ung thư ở trẻ em.
Điều trị u tim
Trong một số trường hợp, bệnh u tim sẽ tự khỏi mà không cần phải điều trị, chủ yếu là với dạng ung thư lành tính rhabdomyomas. Nếu các triệu chứng diễn biến nặng thì các bác sỹ sẽ lên kế hoạch để điều trị.
Các khối u đơn lành tính có thể được phẫu thuật cắt bỏ.
Đối với các khối u ác tính hay trường hợp khối u lành tính quá lớn không thể phẫu thuật các bác sỹ có thể cân nhắc đến biện pháp ghép tim.
Đối với khối u ác tính nguyên phát hay thứ phát mà không thể chữa khỏi thì thường chỉ có thể điều trị triệu chứng.
Phải làm gì khi trẻ thường xuyên bị nghẹt mũi hoặc sổ mũi và ảnh hưởng đến chất lượng bú, chất lượng giấc ngủ của trẻ? Cùng tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng và cách bạn có thể làm để giảm tình trạng nghẹt mũi, sổ mũi cho trẻ qua bài viết sau đây!
Trong đời sống hiện đại, các trạng thái căng thẳng tinh thần mức nhẹ như mệt mỏi, khó tập trung, áp lực công việc hay rối loạn giấc ngủ thoáng qua ngày càng phổ biến. Phần lớn các tình trạng này chưa đến mức bệnh lý, nhưng nếu kéo dài có thể ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng sống và hiệu suất lao động.
Thời tiết lạnh kèm ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng không nhỏ tới phổi và hệ hô hấp. Bên cạnh tập luyện và dinh dưỡng nâng cao chức năng phổi, hãy tham khảo 7 loại thức uống dưới đây giúp hỗ trợ phổi khỏe mạnh tự nhiên.
Bạn bị nghẹt mũi, ho, và có thể cả đau họng. Có vẻ như đó là cảm lạnh thông thường. Nhưng sau vài ngày, các triệu chứng của bạn không thuyên giảm. Liệu cảm lạnh có thể biến thành viêm xoang không?
Trong kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, nhiều loài thảo mộc đã được sử dụng lâu đời như kim ngân hoa, cam thảo, cúc hoa… Tuy nhiên, bên cạnh các vị thuốc quen thuộc, vẫn tồn tại những thảo dược ít được chú ý, dù có giá trị sinh học đáng kể.
Hóa trị có thể giúp bạn chống lại ung thư , nhưng tác dụng phụ gần như chắc chắn. Bạn thường có một tâm trí mơ hồ, được gọi là " sương mù não do hóa trị ", trong và sau khi điều trị. Có thể bạn gặp khó khăn khi nhớ tên hoặc không thể làm nhiều việc cùng lúc tốt như trước đây.
Giấc ngủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển thể chất và não bộ của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, không ít phụ huynh tại nước ta đang đối mặt với tình trạng trẻ khó ngủ, ngủ không sâu giấc, hay thức giấc ban đêm – đặc biệt ở nhóm trẻ có biểu hiện tăng động, hiếu động quá mức.
Sốt xuất huyết nhẹ gây sốt cao và các triệu chứng giống cúm. Sốt xuất huyết nặng, còn gọi là sốt xuất huyết Dengue, có thể gây chảy máu nghiêm trọng, tụt huyết áp đột ngột (sốc) và tử vong.