TMNCBTT là rối loạn hoạt động ở não gây ra do gián đoạn cung cấp máu tạm thời ở não gây giảm chức năng ở não ngắn và đột ngột (thời gian không quá 24 giờ, thường dưới 1 giờ) thường hay tái phát và là yếu tố nguy cơ dẫn đến nhồi máu não (đột quỵ). TMNCBTT xảy ra khi một mạch máu đưa máu lên não bị tắc nghẽn, khiến lưu lượng máu đến một khu vực cụ thể bị chậm hoặc dừng hẳn lại. Điều này thường xảy ra theo 3 cách: Một cục máu đông hình thành trong mạch máu não và làm tắc nghẽn mạch máu. Một cục máu đông hình thành ở những bộ phận khác trong cơ thể và di chuyển đến não bộ, gây tắc nghẽn mạch máu. Một động mạch lớn hoặc nhỏ vận chuyển máu lên não gần như bị tắc nghẽn theo thời gian, thường là do chứng xơ vữa động mạch. Điều này gây lưu lượng máu thấp, mà lưu lượng máu sụt giảm quá thấp có thể gây ra TMNCBTT hoặc thậm chí là đột quỵ. Do đó cần cảnh giác kể cả sau khi những triệu chứng của TMNCBTT đã biến mất.
Cơn TMNCBTT có thể xảy ra bất cứ lúc nào, tuy nhiên gặp nhiều hơn vẫn vào thời gian từ 1 giờ sáng đến 12 giờ trưa và ít gặp xảy ra vào khoảng từ 20 giờ đến 24 giờ. Vấn đề này có thể giải thích bằng sự thay đổi lưu lượng tuần hoàn não theo thời gian trong ngày. Yếu tố thời tiết có ảnh hưởng với việc xuất hiện TMNCBTT như: thay đổi thời tiết một cách đột ngột, mùa đông gặp nhiều hơn mùa hè...
Một số yếu tố khác: TMNCBTT có thể xảy ra khi lao động gắng sức, nhất là ở những bệnh nhân có hội chứng bệnh lý “cướp máu dưới đòn”, nhưng cũng có thể xảy ra khi đang làm việc trí óc hoặc khi lao động nhẹ nhàng, khi đang nghỉ ngơi hoặc khi đang dạo phố...
TMNCBTT thường xảy ra ở người: có bệnh tăng huyết áp, cholesterol máu cao, hút thuốc lá, đái tháo đường, hẹp động mạch cảnh, người có bệnh tim mạch như: suy tim, dị tật tim, viêm cơ tim, loạn nhịp tim, béo phì... gia đình có người bị bệnh mạch máu não, bệnh mạch vành hoặc động mạch ngoại biên trước tuổi 60.
Lứa tuổi thường xảy ra thiếu máu não tạm thời là từ 55 - 64 tuổi, sau đó đến lứa tuổi 65 - 70, trên 70 và dưới 55 tuổi ít gặp hơn. Tỷ lệ TMNCBTT ở nam giới nhiều hơn ở nữ giới khoảng 2 lần.

Thiếu máu não cục bộ tạm thời dễ dẫn đến đột quỵ.
Những dấu hiệu cảnh báo
Triệu chứng của TMNCBTT giống như đột quỵ nhưng sau đó mất đi như thể liệt giả vờ. Các triệu chứng thường gặp là: Yếu một tay hoặc một chân hoặc cả tay và chân cùng bên làm người bệnh đi khó khăn: đi loạng choạng, mất thăng bằng hoặc không phối hợp các động tác được hoặc ngã khuỵu. Rối loạn cảm giác kiểu kiến bò hoặc tê cóng một bên cơ thể. Yếu một bên cơ mặt, miệng méo. Nói khó khăn: nói đớ, nói không nói trọn câu đơn giản hoặc hoàn toàn không nói được. Nhìn khó khăn: mắt mờ hoặc mù một bên hoặc nhìn thấy hình đôi. Nhức đầu dữ dội. Chóng mặt. Mất ý thức: người bệnh sững sờ, không biết gì.
Nếu gặp các triệu chứng trên, hãy ghi lại thời gian chính xác mà các triệu chứng xảy ra. Đây có thể là một thông tin vô cùng hữu ích cho công tác cấp cứu. Nếu bạn nghi ngờ các triệu chứng xảy đến với mình là do TMNCBTT, hãy đến bệnh viện ngay, đừng chờ đến khi các triệu chứng biến mất. Các bác sĩ cần phải đánh giá, điều trị nguyên nhân gây ra TMNCBTT, sau đó lập một kế hoạch cụ thể để ngăn ngừa những cơn đột quỵ trong tương lai. Khi điều trị, họ sẽ tập trung vào 2 vấn đề: Nguyên nhân gây ra triệu chứng và làm thế nào để ngăn ngừa các cơn đột quỵ trong tương lai.
Các triệu chứng của TMNCBTT có thể kéo dài từ vài phút đến hàng giờ và sẽ biến mất sau một thời gian vì lưu lượng máu được phục hồi trước khi não bị tổn thương lâu dài, nghiêm trọng. Mặc dù các triệu chứng không kéo dài, nhưng một số tổn thương não vẫn có thể xảy ra. Điều đáng lo nhất khi bị TMNCBTT là cơ thể sẽ xuất hiện các triệu chứng đột quỵ do lưu lượng máu trong động mạch não hạ thấp. TMNCBTT là yếu tố dự báo những cơn đột quỵ trong tương lai: 4-10% số người lên cơn đột quỵ thực sự trong vòng 48 giờ sau khi bị TMNCBTT và rất nhiều trường hợp bị đột quỵ sau 3 tháng. Nguy cơ đột quỵ đặc biệt tăng cao đối với những người trên 60 tuổi, những bệnh nhân tiểu đường và/hoặc có huyết áp cao hơn 140/90. Cơn TMNCBTT đối với bệnh lý mạch máu não nguy hiểm giống như cơn đau thắt ngực không ổn định đối với bệnh lý mạch máu tim.
Cứ mỗi dịp hè đến với cái nắng oi ả, cũng là thời điểm số vụ tai nạn sông nước gia tăng đáng báo động, trở thành mối hiểm họa khôn lường cho cả người lớn và trẻ em. Để bảo vệ sự an toàn cho cộng đồng và giảm thiểu những thương tâm không đáng có, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cần thiết và khoa học dưới đây, giúp bạn chủ động trang bị các giải pháp bảo vệ toàn diện và bảo vệ bản thân cùng gia đình một cách hiệu quả nhất.
Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí y khoa quốc tế cho thấy, việc bổ sung vitamin D3 liều cao trong thời kỳ mang thai có thể mang lại lợi ích vượt trội cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ.
Nước chanh ấm buổi sáng là một phần trong thói quen chăm sóc sức khỏe của nhiều người. Tuy nhiên, nên sử dụng thức uống này như thế nào để vừa bảo vệ hệ tiêu hóa vừa hỗ trợ quá trình giảm cân hiệu quả?
Dầu dừa từ lâu đã được ca ngợi như một "thần dược" tự nhiên với nhiều lợi ích cho sức khỏe, từ việc cải thiện chức năng não bộ đến hỗ trợ giảm cân. Đặc biệt trong làm đẹp, dầu dừa là thành phần quen thuộc trong các sản phẩm chăm sóc da.
Những đợt nắng nóng ngày càng xuất hiện dày đặc và gay gắt hơn, khiến nhu cầu bù nước của cơ thể tăng lên đáng kể. Không ít người vẫn đợi đến khi khát mới uống nước, trong khi đó lại là dấu hiệu cho thấy cơ thể đã bắt đầu thiếu nước.
Mùa hè năm nay ghi nhận những đợt nắng nóng kỷ lục, làm tăng mạnh nguy cơ đột quỵ, tai biến và suy kiệt do mất nước - đặc biệt ở người già và người có bệnh nền. Trước tình hình này, chuyên gia khuyến cáo người dân cần chủ động thực hiện ngay các biện pháp phòng bệnh để bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình.
Ngâm trứng vào nước lạnh ngay sau khi luộc là thói quen của nhiều người giúp vỏ trứng dễ bóc hơn. Tuy nhiên lại có một số thông tin cho rằng ngâm nước như vậy trứng dễ bị nhiễm khuẩn. Thực hư thế nào?
Bệnh ghẻ (scabies) là một trong những bệnh da liễu thường gặp ở trẻ em, đặc biệt trong môi trường đông đúc, vệ sinh chưa đảm bảo như nhà trẻ, trường học hoặc khu dân cư có điều kiện sinh hoạt hạn chế. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm trên toàn cầu ghi nhận từ 200–300 triệu ca mắc ghẻ, một con số cho thấy mức độ phổ biến đáng báo động.