Biểu hiện bệnh:
- Biểu hiện của thiếu canxi: quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi khi ngủ, rụng tóc vùng sau gáy hình vành khăn, chậm mọc răng, thóp rộng, bướu đỉnh đầu hoặc trán dồ, giảm trương lực cơ, chậm phát triển vận động ( chậm biết lật, biết bò, đi, đứng…)
- Nếu còi xương nặng có di chứng: chuỗi hạt sườn, rãnh Harrison, ức gà, vòng cổ chân, cổ tay, chân cong hình chữ X, chữ O.
- Xquang xương có thể thầy những bất thường: hình ảnh khoét xương, chuỗi hạt sườn, điểm cốt hóa chậm so với tuổi.
- Chỉ số có giá trị nhất là giảm 25-hydroxyvitaminD (calcidiol) trong máu.

Chuyển hóa vitamin D trong cơ thể:
Dưới da trẻ đã có sẵn các tiền vitamin D ( 7 dehydro- cholesterol), dưới tác dụng của tia tử ngoại của ánh nắng mặt trời,
sẽ hoạt hóa chuyển thành vitamin D3 (cholecalciferol). Nguồn vitamin D chính yếu cung cấp cho trẻ là nhờ phơi nắng. Vitamin D cung cấp qua thức ăn thường ở dạng vitamin D2 (ergocalciferol), có nguồn gốc từ thực vật và nấm, được dùng bổ sung trong sữa công thức.
Vitamin D2 và vitamin D3 được coi là prohormone, đến gan và được chuyển thành 25-hydroxy vitaminD (calcidiol) là thể lưu hành của vitamin D trong máu. Khi đến thận, calcidiol được hydroxyl hóa 1 lần nữa và trở thành hormone có hoạt tính sinh học 1,25-dihydroxyvitaminD (calcitriol). Calcitriol kích thích sự hấp thu canxi và phosphor tại đường ruột, sự tái hấp thu canxi ở thận và huy động canxi, phosphor từ xương.
Phòng ngừa:
- Cho trẻ tắm nắng hàng ngày: Để chân, tay, lưng, bụng trẻ lộ ra ngoài từ 15-30 phút lúc buổi sáng (trước 9 giờ). Lưu ý phải tắm nắng trực tiếp, nghĩa là không đứng sau lớp kính cửa sổ vì sẽ không còn tác dụng.
- Khi trẻ ăn dặm: cho trẻ ăn các loại thực phẩm có chứa nhiều canxi ( Sữa, trứng, tôm, cua, cá, rau xanh…) và dầu mỡ.
- Ở những nơi thiếu ánh nắng mặt trời, cung cấp vitamin D phụ thuộc nhiều vào chế độ ăn. Tất cả các đối tượng trẻ nhũ nhi, trẻ nhỏ, thiếu niên đều phải được cung cấp tối thiểu 400 UI vitamin D mỗi ngày. Để đạt được nhu cầu trên, viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa kỳ khuyến cáo:
+ Bổ sung vitamin D từ sau sinh cho trẻ bú mẹ hoàn toàn và bú mẹ một phần với liều 400 UI/ngày ( 10 µg cholecalciferol) cho đến khi trẻ bú được khoảng 1l sữa/ngày hoặc uống thêm trên 250ml sữa có bổ sung vitamin D. Không dùng sữa bò tươi cho trẻ dưới 1 tuổi .
+ Trẻ nhỏ và thiếu niên nếu ăn ít thực phẩm bổ sung vitamin D (sữa, bột, lòng đỏ trứng…) cũng nên bổ sung vitamin D200- 400 UI/ngày.
+ Trẻ có nguy cơ thiếu vitamin D như kém hấp thu mỡ (suy tụy, bệnh gan mạn…), sử dụng thuốc chống động kinh phải được theo dõi nồng độ vitamin D và bổ sung định kỳ. Liều cao hơn bình thường 2-4 lần.
- Khi có thai, người mẹ phải có chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý. Có thể uống vitamin D khi thai được 7 tháng: 200.000UI/ 1 lần duy nhất.
Điều trị:
- Vitamin D2: 2000-5000UI/ ngày trong 2-4 tuần.
- Sau đó bổ sung 400 UI/ ngày trong 12-24 tháng.
- Bổ sung canxi và chế độ dinh dưỡng hợp lý.
Một số lưu ý:
- Trẻ bụ bẫm vẫn có thể thiếu vitamin D nếu ít phơi nắng do nhu cầu cao.
- Trẻ da sậm màu dễ bị thiếu vitamin D hơn.
- Ăn quá dư đạm cũng làm tăng mất canxi qua thận.
- Trẻ bị suy dinh dưỡng thể còi cọc, có số đo về cân nặng và chiều cao đều thấp hơn trẻ bình thường, có thể kèm còi xương hoặc không. Tỉ lệ trẻ thấp còi ở Việt nam vẫn còn khá cao, theo số liệu điều tra của Viện dinh dưỡng 2007 là 33,9%, xếp trong 20 nước có tỉ lệ thấp còi cao nhất thế giới.
- Bổ sung dầu mỡ đầy đủ trong bữa ăn hàng ngày của trẻ: vitamin D là loại tan trong dầu, nếu chế độ ăn thiếu dầu mỡ thì dù có được uống vitamin D trẻ cũng không hấp thu được nên vẫn bị còi xương.
- Hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thấp, khoảng 22 UI/l. do đó trẻ bú mẹ phải phơi nắng đều đặn, trong những tháng mùa đông phải uống thêm vitamin D.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Giải pháp dinh dưỡng cho trẻ thấp lùn do còi xương
Tăng trưởng chiều cao là một quá trình phức tạp được điều biến bởi di truyền, nội tiết và dinh dưỡng. Trong đó, các vi chất dinh dưỡng đóng vai trò cốt yếu vào việc hình thành mật độ xương và kéo dài xương chi.
Chiều cao không chỉ là một chỉ số phát triển thể chất mà còn phản ánh tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe và tiềm năng phát triển lâu dài của trẻ. Trong bối cảnh Việt Nam vẫn còn đối mặt với tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở một bộ phận trẻ em, việc tìm kiếm các giải pháp dinh dưỡng phù hợp nhằm cải thiện tầm vóc đang trở thành một trong những ưu tiên quan trọng.
Trong bối cảnh áp lực thi cử ngày càng gia tăng, quan niệm hy sinh giấc ngủ để học tập thâu đêm vẫn còn khá phổ biến ở nhiều học sinh và phụ huynh. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của khoa học đây là một chiến lược phản tác dụng bởi não bộ cần thời gian nghỉ ngơi để xử lý và củng cố thông tin một cách trọn vẹn. Để giúp các sĩ tử hiểu rõ cơ chế này, Viện Y học ứng dụng Việt nam sẽ chia sẻ thông tin về vai trò của giấc ngủ đối với trí nhớ, giúp bạn không chỉ bảo vệ sức khỏe mà còn tối ưu hóa năng lực ghi nhớ và hiệu suất tư duy trong giai đoạn quan trọng.
Yoga là phương pháp luyện tập kết hợp vận động, kiểm soát hơi thở và thiền định, mang lại lợi ích lớn cho cả sức khỏe thể chất và tinh thần. Đặc biệt, yoga cho người mới bắt đầu là lựa chọn lý tưởng để giảm căng thẳng, tăng sự linh hoạt và cải thiện sức khỏe.
Nước bạc hà là thức uống đơn giản nhưng mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như hỗ trợ tiêu hóa, giảm đau đầu, cải thiện miễn dịch và làm dịu triệu chứng hô hấp…
Vào mùa thi, áp lực từ khối lượng kiến thức lớn, kỳ vọng từ gia đình, thầy cô cùng nỗi lo về kết quả tương lai dễ khiến nhiều bạn rơi vào trạng thái căng thẳng kéo dài, thậm chí ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tinh thần và thể chất. Tuy nhiên, sự căng thẳng có thể được kiểm soát và tăng thêm động lực. Sau đây, viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về những kỹ thuật thư giãn và quản lý áp lực mùa thi hiệu quả.
Sắn dây là thức uống giải nhiệt quen thuộc. Gần đây, một số nghiên cứu cho thấy dược liệu này có thể hỗ trợ kiểm soát huyết áp khi dùng đơn lẻ hoặc phối hợp, tuy nhiên cần sử dụng đúng cách và theo tư vấn chuyên môn.
Nhiệt độ và huyết áp có mối quan hệ nghịch đảo, nghĩa là khi nhiệt độ tăng, huyết áp sẽ giảm.