Bạn có thể bị nhiễm HPV dù bạn không có mụn cóc
Nhiễm HPV (sùi mào gà) có phải vấn đề bạn quan tâm? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu những thông tin hữu ích nhất về căn bệnh này.
Có phải nhiễm HPV luôn gây ra triệu chứng không?
Nhiễm HPV là một loại lây nhiễm phổ biến qua đường tình dục. Ít nhất 50% những người trong độ tuổi hoạt động tình dục bị nhiễm HPV một vài lần trong đời.
Có hơn 150 typ HPV đã được tìm ra nhưng không phải tất cả chúng đều gây ra mụn cóc. Nhiều typ có thể không gây ra bất kì triệu chứng gì và thường tự hết dù không điều trị gì.
Một số typ như typ 11 và typ 6 có thể gây ra mụn cóc. Những typ khác như typ 16 và 18 không gây ra mụn có nhưng có thể gây ra một số loại ung thư. Khả năng miễn dịch của bạn cũng có thể quyết định một số typ HPV có gây ra mụn cóc hay không.
Nhiều người bị nhiễm HPV mà không có bất cứ triệu chứng gì. Điều đó dẫn đến bạn có thể lây truyền HPV cho những người khác mà chính bạn cũng không biết.
Triệu chứng
Hầu hết những người nhiễm HPV không có triệu chứng. Khoảng 9/10 các trường hợp sẽ tự khỏi mà không cần điều trị, và nó thường mất khoảng 2 năm. Một số trường hợp khác, virus có thể tồn tại dai dẳng trong cơ thể và gây ra triệu chứng.
Mụn cóc là một triệu chứng thường gặp. Chúng có thể xuất hiện nhiều tuần, nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm sau khi bạn tiếp xúc với virus. Hình dáng và vị trí xuất hiện của mụn cóc trên cơ thể tùy thuộc vào typ HPV mà bạn bị nhiễm. Các loại mụn cóc bao gồm:
Mụn cóc thông thường: khối sưng đỏ, gồ ghề thường xuất hiện ở khuỷu tay, ngón tay và bàn tay, có thể gây đau và dễ chảy máu.
Mụn cóc sinh dục: là những đám trông giống như súp-lơ, hơi nhô lên hoặc phẳng, các tổn thương giống như vết bầm tím và có thể gây ngứa nhưng hiếm khi gây đau.
Mụn cóc phẳng: vùng da tối màu hơi nhô lên một chút, đỉnh phẳng có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào trên cơ thể.
Mụn cóc ở chân: đỏ, ngứa, sần và cứng, thường xuất hiện ở gót chân.
Một số typ HPV có thể gây ra cả mụn cóc sinh dục và mụn cóc ở miệng, họng.
Nếu bạn bị HPV miệng, các triệu chứng có thể bao gồm:
HPV cũng có thể dẫn đến một số loại ung thư. Ung thư có liên quan đến HPV ảnh hưởng tới 18.000 phụ nữ và 9.000 nam giới mỗi năm. Các loại ung thư này bao gồm:
HPV lây truyền như thế nào
HPV thường lây qua đường tình dục, tiếp xúc trực tiếp da-da. Virus dễ lan truyền hơn thông qua những tổn thương da hở, ví dụ như vết xước, vết cắt hoặc chỗ bị trầy da. Những tổn thương này có thể có kích thước rất nhỏ, ví dụ như khi quan hệ tình dục.
Bạn có thể nhiễm hoặc lan truyền HPV cho dù bạn không có mụn cóc, nhưng bất kì loại mụn cóc nào cũng có thể lây nhiễm nếu chạm vào.
HPV có thể sống ở bên ngoài cơ thể trong thời gian rất ngắn. Mặc dù hiếm gặp nhưng vẫn có thể bị lây nhiễm virus khi chạm vào các vật dụng được dùng trong hoạt động tình dục.
Phụ nữ có thể lây truyền HPV cho con của họ khi mang thai. Mặc dù không phổ biến nhưng bạn vẫn cần thảo luận với bác sĩ nếu bạn có ý định có thai.
Yếu tố nguy cơ
Mặc dù HPV có thể ảnh hưởng tới bất kì đối thượng nào nhưng một số người sẽ có nguy cơ cao hơn.
Nếu bạn đã từng hoặc đang có một vài bạn tình, bạn sẽ có nguy cơ cao hơn. Nếu bạn tình của bạn là người đã từng có nhiều bạn tình thì bạn cũng sẽ có nhiều nguy cơ bị nhiễm HPV, cho dù hiện tại họ chỉ có quan hệ tình dục với bạn. Tình dục an toàn có thể giúp bạn giảm nguy cơ phơi nhiễm.
Hệ thống miễn dịch suy yếu cũng có thể làm tăng nguy cơ của bạn. Nó có thể do một số bệnh lí, ví dụ như nhiễm HIV/AIDS; hoặc các thuốc kê đơn được sử dụng để chống thải ghép sau phẫu thuật ghép tạng.
Chẩn đoán
Nếu bạn bị mụn cóc, bác sĩ có thể chẩn đoán bằng kính kính hiển vi. Nếu không nhìn thấy mụn cóc, một số xét nghiệm HPV khác cho phụ nữ có thể được thực hiện như:
PAP smear, hay còn gọi là PAP test: tìm các tế bào ung thư và tiền ung thư ở cổ tử cung và âm đạo.
Test axit acetic: bôi axit acetic vào vị trí nhiễm HPV trên cơ thể, ví dụ như bộ phận sinh dục, da sẽ trở nên sáng màu hơn và có thể dễ dàng quan sát thấy bất kì mubnj cóc nào.
Xét nghiệm ADN để tìm ADN của các typ HPV có thể gây các loại ung thư sinh dục ở các tế bào lấy từ cổ tử cung, thường được tiến hành ở những phụ nữ trên 30 tuổi.
Hiện nay, không có bất kì xét nghiệm nào sẵn có cho nam giới. Cũng không có xét nghiệm nào được phê duyệt để chẩn đoán hoặc sàng lọc ung thư họng, hậu môn, tinh hoàn.
Điều trị
Mặc dù không thể chữa khỏi HPV nhưng các triệu chứng của nó có thể điều trị được.
Bác sĩ có thể có một vài giải pháp để lấy bỏ các mụn cóc, ví dụ như đốt hóa học, đông lạnh, liệu pháp laser và thuốc. Điều trị sẽ tùy thuộc vào vị trí, số lượng và kích thước của mụn cóc. Lấy bỏ mụn cóc không có nghĩa là loại trừ được virus. Điều đó tức là bạn vẫn có thể lây truyền virus cho người khác nếu bạn quan hệ tình dục không được bảo vệ.
Nếu được chẩn đoán sớm, các loại ung thư có liên quan đến HPV sẽ đáp ứng tốt với điều trị.
Tiên lượng
Nếu bạn nhiễm HPV, bạn cần đi kiểm tra định kì để kiểm soát các triệu chứng. Phụ nữ nên thường xuyên làm xét nghiệm PAP smear để phát hiện các tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung. Bác sĩ sẽ đưa ra lịch thăm khám định kì phù hợp nhất với bạn.
Nếu các triệu chứng của bạn giảm đi theo thời gian thì bạn vẫn cần kiểm tra. Điều quan trọng là cần có sự phòng ngừa để tránh lan truyền virus cho những người khác. Tránh quan hệ tình dục khi các mụn cóc này của bạn bị vỡ ra.
Phòng bệnh
Vaccin có thể bảo vệ bạn chống lại một số typ HPV. Các loại vaccin hiện đang lưu hành bao gồm Cervarix, Gardasil và Gardasil 9. Gardasil và Gardasil 9 đều có hiệu quả bảo vệ cơ thể khỏi mụn cóc sinh dục.
Vaccin được khuyến cáo chủng ngừa cho cả nam và nữ ở độ tuổi 11 và 12. Chúng được tiêm gồm 3 mũi trong vòng 6 tháng. Để thu được hiệu quả tốt nhất, bạn cần tiêm đủ cả 3 mũi.
Nếu bạn không tiêm vaccin ở độ tuổi này, bạn vẫn có thể thu được hiệu quả từ việc tiêm vaccin cho đến tận 26 tuổi. Chúng sẽ có hiệu quả nhất nếu bạn tiêm trước khi phơi nhiễm với virus hoặc có hoạt động tình dục.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những điều nên biết về bệnh sùi mào gà
Ngũ cốc nguyên hạt từ lâu đã được khuyến cáo trong chế độ ăn có lợi cho tim mạch.
Các thực phẩm chức năng từ nghệ, đặc biệt là những loại có thêm tiêu đen, có thể gây hại cho gan, với số ca tổn thương gan do nghệ gây ra ngày càng tăng trong những năm gần đây.
Một số thực phẩm chức năng có thể cải thiện sức bền hoặc hiệu suất thể thao. Tuy nhiên, một số loại thực phẩm chức năng có thể hứa hẹn kết quả quá mức hoặc đi kèm với rủi ro.
U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!
Khi thời tiết chuyển lạnh và nhiệt độ giảm sâu, nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi tăng cao đáng kể, trở thành mối lo ngại hàng đầu của nhiều gia đình. Tình trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng mà còn dễ để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí kịp thời. Nhằm giúp mọi người chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ những thông tin khoa học về nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết sớm và các biện pháp phòng ngừa đột quỵ hiệu quả trong mùa đông.
Hiến tặng tế bào gốc tủy xương đòi hỏi phải đồng ý cho phép lấy tế bào gốc từ máu hoặc tủy xương của bạn để truyền cho người khác. Quá trình này được gọi là cấy ghép tế bào gốc, cấy ghép tủy xương hoặc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Cùng tìm hiểu về quy trình và những nguy cơ bạn có thể gặp phải khi hiến tế bào gốc qua bài viết sau!
Mùa đông tới mang theo không khí khô lạnh khiến làn da vốn mỏng manh của trẻ nhỏ phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe. Hiện tượng nẻ gót, bong tróc hay cước tay chân ở trẻ nhỏ là nỗi trăn trở hàng đầu của nhiều bậc phụ huynh. Những vết bong nẻ không chỉ làm bé đau rát, ngứa ngáy mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, giấc ngủ và sự phát triển toàn diện của trẻ. Việc nhận biết rõ nguyên nhân, dấu hiệu và nắm chắc quy trình chăm sóc da chuẩn khoa học sẽ giúp cha mẹ chủ động bảo vệ toàn diện cho bé trong những ngày giá rét.
Mọi người thường tránh ăn đậu vì chúng được biết là gây đầy hơi và chướng bụng. Điều này xảy ra vì đậu chứa một loại đường phức tạp gọi là galacto-oligosaccharide (GOS), một dạng carbohydrate mà các enzyme tiêu hóa của con người không thể phân giải hoàn toàn. Thay vào đó, GOS được vi khuẩn trong ruột già lên men, và sinh ra sản phẩm phụ là khí, gây đầy hơi. Mặc dù không có loại thực phẩm nào có thể ngăn ngừa hoàn toàn tình trạng đầy hơi do đậu gây ra, nhưng việc kết hợp đậu với một số loại thực phẩm cụ thể có thể cải thiện tiêu hóa.