Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Ăn cá làm tăng kích thước não bộ của thai nhi

Tác động của chế độ dinh dưỡng đối với sự phát triển của bào thai không chỉ là một lĩnh vực nghiên cứu đáng được quan tâm mà cũng là một vấn đề vô cùng phức tạp.

Ăn cá làm tăng kích thước não bộ của thai nhi

Theo đó, một nghiên cứu gần đây đã đi sâu vào khám phá cơ chế tác động của acid béo Omega đối với sự phát triển của não bộ thai nhi.

Tầm quan trọng của chế độ dinh dưỡng trong suốt quá trình mang thai là một vấn đề rõ ràng và không thể bàn cãi. Khi đứa trẻ lớn dần lên trong bụng mẹ, nó cần hấp thu những chất dinh dưỡng và các yếu tố cần thiết để hoàn thiện toàn bộ chức năng của cơ thể. Do sự phát triển của não bộ là gần như đã hoàn thiện khi còn trong bào thai nên tác động của bất cứ sự thiếu hụt chất dinh dưỡng nào trong thời kỳ này đều trở nên nghiêm trọng hơn so với các cơ quan khác.

Một nghiên cứu mới đây được tiến hành tại Đại học Y khoa Tohoku ở Nhật Bản đã tìm hiểu vai trò của acid béo Omega-6 và Omega-3 trong chế độ ăn đối với sự phát triển của bào thai trên mô hình chuột thí nghiệm. Tầm quan trọng của acid béo Omega đã được nghiên cứu khá nhiều, tuy nhiên trong nghiên cứu mới nhất này được dẫn đầu bởi giáo sư Noriko Osumi, các nhà khoa học đã đi sâu vào tìm hiểu cơ chế tác động đặc hiệu của các acid béo này trong suốt quá trình phát triển của não bộ phôi thai.

Tầm quan trọng của acid béo Omega-3

Cả Omega-3 và Omega-6 đều thuộc nhóm những acid béo thiết yếu do cơ thể không thể tự tổng hợp được nên phải hấp thụ từ chế độ ăn.

Trong cơ thể, acid béo Omega có vai trò là nguồn dự trữ năng lượng, vận chuyển oxy, tham gia vào chức năng của màng tế bào và điều hòa phản ứng viêm.

Cá biển có chứa rất nhiều Omega-3, dạng phổ biến nhất là acid docosahexaenoic và acid eicosapentaenoic. Ở Mỹ, do người dân tiêu thụ rất ít cá biển nên tỷ lệ bị thiếu hụt Omega-3 là khá cao.

Những nghiên cứu trước đây đã chứng minh tầm quan trọng của Omega-3 trong thai kỳ như đóng vai trò quyết định độ dài của thời gian mang thai và làm giảm trầm cảm trước và sau khi sinh. Dầu Omega-3 cũng có khả năng làm tăng tỷ lệ phát triển của não bộ khi còn là bào thai và trong suốt năm đầu đời. Ngoài ra nó cũng tham gia vào sự phát triển của thị giác. Nghiên cứu trên bào thai động vật không được bổ sung Omega-3 cho thấy có những biến đổi về thị giác và hành vi không thể khắc phục được mặc dù sau khi sinh ra đã được ăn chế độ đủ dinh dưỡng.

Tỷ lệ Omega-6/Omega-3

Giáo sư Osumi và nhóm của ông cũng xem xét ảnh hưởng trên bào thai khi thay đổi tỷ lệ giữa các acid béo này. Bằng việc cho chuột đang mang thai ăn chế độ giàu Omega-6 và nghèo Omega-3, các nhà khoa học đã mô phỏng lại tỷ lệ các acid béo điển hình trong chế độ dinh dưỡng trên thế giới hiện nay. Omega-6 chứa nhiều trong dầu các loại hạt, còn Omega-3 chủ yếu trong cá biển.

Khi chuột con được sinh ra, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng thế hệ con của những chuột mẹ ăn chế độ giàu Omega-6 và ít Omega-3 có kích thước não bộ nhỏ hơn hẳn con của những chuột mẹ ăn chế độ cân bằng các acid béo nêu trên.

Điều thú vị và cũng hết sức đáng lo ngại là những con chuột mới ra đời có mẹ ăn chế độ mất cân bằng các acid béo cũng cho thấy những thay đổi bất thường về hành vi như tăng mức độ lo lắng khi trưởng thành mặc dù sau khi sinh ra đã được cho ăn chế độ đủ dinh dưỡng.

Những thay đổi có nguồn gốc từ acid béo omega

Những thiếu hụt tương tự cũng đã được thể hiện từ những nghiên cứu trước đây. Tuy nhiên GS. Osumi và cộng sự muốn đi sâu vào cơ chế đằng sau những khám phá này để xem những thay đổi đặc biệt diễn ra trong quá trình phát triển của não bộ thai nhi trong điều kiện này là gì.

Nhóm nghiên cứu tiến hành đo mức độ chuyển hóa lipid trong quá trình phát triển của não; họ nhận thấy rằng chất chuyển hóa của acid béo Omega là những chất chuyển hóa quan trọng đối với các tế bào gốc thần kinh – các tế bào sau sẽ phát triển thành tế bào não hoàn chỉnh. Đối với những con chuột được ăn chế độ giàu Omega-6 hơn Omega-3, các tế bào gốc thần kinh phát triển nhanh hơn và dễ bị hủy hoại. Kết quả này, được xuất bản trên tạp chí Stem Cells, chỉ ra rằng sự gia tăng mức nồng độ Omega-6 tạo ra các oxide của Omega-6, những chất này gây nên sự lão hóa sớm của các tế bào gốc thần kinh.

Do vậy, các nhà khoa học kết luận rằng: “Những khám phá này cung cấp những bằng chứng thuyết phục để có những khuyến cáo rằng trong thời kỳ mang thai, Omega-6 và Omega-3 nên được tiêu thụ ở mức tỷ lệ cân bằng 1:1. Tuy nhiên, chế độ dinh dưỡng tại Mỹ hiện nay phổ biến với tỷ lệ thường là 16:1. Ngoài ra, việc hạn chế tiêu thụ cá biển do nỗi sợ hãi có thể nhiễm độc thủy ngân cũng làm giảm đáng kể tỷ lệ Omega-3 trong bữa ăn.

Do vậy, khuyến cáo dành cho phụ nữ có thai từ Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ là: nên ăn từ 8-12 oz cá biển hàng tuần. Lượng này đã tối ưu hóa ảnh hưởng có lợi của Omega-3 và hạn chế tối đa nguy cơ nhiễm độc thủy ngân từ cá biển.

Thông tin thêm trong bài viết: DHA, EPA và việc ăn cá

Bình luận
Tin mới
  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

Xem thêm