Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

7 loại viêm khớp tuổi thiếu niên chưa rõ nguyên nhân

Trước đây, viêm khớp tuổi thiếu niên vốn được chia làm ba loại chính. Tuy nhiên thời gian gần đây, các chuyên gia đã đề nghị chia viêm khớp tuổi thiếu niên thành 7 loại nhằm mục đích theo dõi và nghiên cứu.

7 loại viêm khớp tuổi thiếu niên chưa rõ nguyên nhân
 

Viêm khớp tuổi thiếu niên là nhóm bệnh phổ biến với diễn biến phức tạp, khó nhận biết, gây khó khăn trong việc chẩn đoán, điều trị bệnh. Viêm khớp tự phát tuổi thiếu niên là một trong những bệnh hay gặp nhất. Tình trạng viêm khớp mạn tính kéo dài ít nhất 6 tuần, khởi phát trước 16 tuổi.

1.Viêm đa khớp có yếu tố thấp khớp âm tính

Trẻ viêm đa khớp có yếu tố thấp khớp âm tính có viêm khớp ảnh hưởng đến 5 hoặc nhiều khớp hơn trong 6 tháng đầu của bệnh. Các xét nghiệm yếu tố thấp khớp là âm tính.

2.Viêm đa khớp có yếu tố thấp khớp dương tính

Trẻ viêm đa khớp có yếu tố thấp khớp tính có viêm khớp ảnh hưởng đến 5 khớp hoặc hơn trong 6 tháng đầu. Hai xét nghiệm cho yếu tố thấp khớp thực hiện cách nhau ba tháng đều dương tính.

3.Viêm một hoặc vài khớp

Trẻ bị viêm một hoặc vài khớp (thường từ 1-4 khớp) trong vòng 6 tháng đầu của bệnh. Có thể có hơn bốn khớp tiếp sau sáu tháng đầu.

Nếu đứa trẻ có bốn hoặc ít hơn số khớp bị ảnh hưởng trong suốt quá trình của bệnh, nó được gọi là viêm thiểu khớp liên tục. Nếu đứa trẻ có nhiều hơn bốn khớp bị ảnh hưởng sau sáu tháng đầu, nó được gọi là viêm thiểu khớp mãn tính kéo dài.

4.Viêm khớp hệ thống

Trẻ bị viêm khớp hệ thống có các triệu chứng viêm khớp, sốt kéo dài từ hai tuần trở lên, xuất hiện trong ba ngày hoặc hơn, cùng với một trong các triệu chứng sau:

  • Hạch to
  • Gan lách to
  • Viêm màng ngoài tim hoặc màngphổi
  • Phát ban (không ngứa) với thời lượng biến đổi có thể di chuyển đến các phần khác nhau của cơ thể

5.Bệnh viêm khớp vẩy nến

Trẻ em được xếp vào loại viêm khớp vẩy nến có cả chứng viêm khớp và bệnh vẩy nến, hoặc chúng bị ảnh hưởng bởi chứng viêm khớp và hai trong số các triệu chứng sau:

  • Viêm ngón (ngón tay hoặc ngón tay hình khúc dồi)
  • Móng bị lõm/tách
  • Vẩy nến cấp độ 1

6.Viêm khớp bám gân liên quan đến viêm khớp

Trẻ em mắc bệnh viêm khớp bám gân liên quan đến viêm khớp có viêm khớp và viêm ở vị trí bám của gân (nơi có dây chằng, gân, hoặc khớp nối với xương) hoặc có viêm khớp hoặc viêm kèm với hai hoặc nhiều hơn những điều sau đây:

  • Viêm khớp cùng chậu hoặc đau và cứng ở vùng thắt lưng
  • Xét nghiệm dương tính với HLA-B27
  • Viêm khớp bắt đầu ở nam giới trên 6 tuổi
  • Mối quan hệ bậc 1 với viêm cột sống dính khớp, viêm khớp bám gân kèm viêm khớp, viêm khớp cùng chậu với bệnh viêm ruột, hoặc viêm mắt cấp tính (viêm màng bồ đào trước cấp tính).

7.Bệnh viêm khớp không phân biệt

Loại này thuộc về trẻ em có các triệu chứng viêm khớp, không phù hợp với bất cứ một trong sáu loại viêm khớp bên trên - hoặc chúng đáp ứng các tiêu chí của hai loại trở lên.

Lời khuyên

Bạn nên đưa trẻ đến khám bác sĩ khi có bất cứ dấu hiệu nào liên quan đến viêm khớp để nhận được phác đồ điều trị phù hợp nhất.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Viêm khớp tuổi thiếu niên

 

Bình luận
Tin mới
  • 01/09/2026

    Cảnh báo 7 bệnh thường gặp mùa hè và cách phòng ngừa hiệu quả

    Mùa hè với nhiệt độ cao, độ ẩm lớn và thói quen sinh hoạt thay đổi là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại virus, vi khuẩn và ký sinh trùng bùng phát. Hiểu rõ các bệnh thường gặp trong mùa nắng nóng sẽ giúp bạn chủ động bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình.

  • 31/08/2026

    3 loại đồ uống cần tránh khi dùng chung với thực phẩm chức năng dầu cá

    Tốt nhất nên uống thực phẩm bổ sung dầu cá cùng với thức ăn để tăng cường khả năng hấp thụ các axit béo omega-3 có lợi. Các loại đồ uống cần tránh khi dùng thực phẩm bổ sung dầu cá bao gồm rượu và đồ uống có ga.

  • 30/08/2026

    Uống đủ nước mỗi ngày: Nhiều người đang mất nước mà không hề hay biết

    Nước chiếm 60-70% trọng lượng cơ thể và tham gia vào hầu hết mọi phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Thế nhưng, tình trạng thiếu nước mãn tính - không phải mất nước cấp tính - đang âm thầm ảnh hưởng đến sức khỏe của hàng triệu người Việt Nam mỗi ngày mà họ không nhận ra.

  • 29/08/2026

    Sự khác biệt giữa chế độ ăn phương Đông và phương Tây

    Chế độ ăn Địa Trung Hải từ lâu đã được coi là chuẩn mực cho một sức khỏe tốt. Ăn uống là một hành trình mang tính cá nhân sâu sắc, gắn liền với các mối liên hệ văn hóa, niềm tin tâm linh, thói quen và tất nhiên là cả nguồn thực phẩm sẵn có. Chế độ ăn uống trực tiếp chịu trách nhiệm cho sức sống cũng như sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi có nhiều tranh luận về việc thế nào mới chính xác là một chế độ ăn lành mạnh; bởi đây là một vấn đề quan trọng và đầy thách thức.

  • 28/08/2026

    Huyết áp của bạn sẽ thay đổi như thế nào khi bạn tập thể dục mỗi ngày?

    Tập thể dục đều đặn hàng ngày có thể làm giảm huyết áp bằng cách tăng cường sức khỏe tim mạch và cải thiện độ đàn hồi cũng như chức năng của mạch máu. Tập thể dục với cường độ vừa phải hầu hết các ngày trong tuần có thể giúp giảm huyết áp bền vững và giảm nguy cơ mắc bệnh tim.

  • 27/08/2026

    Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori và các bệnh lý liên quan

    Hơn 80% người trưởng thành tại Việt Nam nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori – tác nhân chính gây viêm loét và ung thư dạ dày. Khám phá ngay cơ chế lây truyền, quá trình phát triển bệnh và thách thức kháng kháng sinh hiện nay để chủ động bảo vệ sức khỏe gia đình bạn

  • 26/08/2026

    Hội chứng mất khả năng cảm nhận niềm vui – Anhedonia

    Hội chứng mất khả năng cảm nhận niềm vui – Anhedonia là tình trạng khiến bạn không thể trải nghiệm niềm vui hoặc sự thích thú. Bạn có thể cảm thấy tê liệt hoặc ít hứng thú hơn với những điều mà trước đây bạn từng yêu thích. Đây là một triệu chứng phổ biến của nhiều bệnh lý tâm thần như trầm cảm. Cùng tìm hiểu về hội chứng này qua bài viết sau đây!

  • 25/08/2026

    Bạn có thể ở dưới ánh nắng mặt trời bao lâu trước khi da bị tổn thương?

    Đối với hầu hết mọi người, tác hại của ánh nắng mặt trời đối với da bắt đầu trong vòng 15 phút sau khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời mà không sử dụng kem chống nắng. Tuy nhiên, thời gian có thể thay đổi tùy thuộc vào loại da và loại tia cực tím, chỉ số (UV), thời gian và địa điểm.

Xem thêm