7 bệnh lý xương khớp hay gặp nhất
Mật độ xương sẽ giảm dần sau tuổi 20 bởi quá trình lão hóa. Tuy nhiên, một số bệnh về xương có thể làm giảm mật độ và sự chắc khỏe của xương. Những thiếu hụt các chất dinh dưỡng như vitamin D hay Canxi, sự mất cân bằng nội tiết và các bất thường ở tế bào cũng có thể gây rối loạn ở xương cả ở trẻ em và người lớn.
Loãng xương
Loãng xương đặc trưng bởi sự phân hủy cấu trúc xương và sự suy giảm khối lượng xương một cách bất thường ở người cao tuổi. Điều đó khiến xương mỏng hơn và tăng nguy cơ nứt, gãy xương. Hầu hết những người có bệnh loãng xương đều không nhận biết được bệnh cho tới khi xảy ra tình trạng gãy xương. Loãng xương có thể được ngăn ngừa hoặc giảm bớt bằng chế độ dinh dưỡng đầy đủ và tập thể dục thường xuyên.
Bệnh Paget xương
Bệnh Paget xương là một rối loạn của các tế bào được gọi là tế bào tổng hợp và tế bào tiêu xương có nhiệm vụ phá vỡ, xây dựng lại và tái tạo mô xương. Bệnh Paget xương khiến xương dày và to hơn nhưng cũng giòn hơn vì sự phát triển cấu trúc bất thường.
Viêm tủy xương
Viêm tủy xương là một nhiễm khuẩn xương, có thể đột ngột và cấp tính nhưng cũng có thể là mạn tính.Các triệu chứng bao gồm đau xương cục bộ, căng tức,d dỏ và sưng phù, có thể sốt và ớn lạnh. Cách điều trị có thể là dùng kháng sinh và trong một số trường hợp có thể phẫu thuật để loại bỏ các mô xương bị viêm nhiễm.
Bệnh xương thủy tinh
Đây là một rối loạn di truyền được đặc trưng bởi tình trạng xương giòn, dễ nứt gãy. Nguyên nhân là do một khiếm khuyết gen trong việc sản xuất collagen, một protein cấu trúc cần thiết để làm chắc khỏe xương. Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh xương thủy tinh rất đa dạng và có thể bao gồm thấp còi, khớp lỏng lẻo, yếu cơ, cong cột sống, răng dễ nứt, biến dạng xương, giảm thính lực và phần lòng trắng của mắt có màu xanh/xám.

Trong bệnh hoại tử xương, máu sẽ không cung cấp đủ máu tới các mô xương và gây hoại tử. Bệnh này chủ yếu ảnh hưởng đến đầu xương đùi. Xương vai, đầu gối, cổ tay hoặc mắt cá chân cũng có thể bị ảnh hưởng. Đa số các trường hợp có nguyên nhân là do chấn thương tại xương, ví dụ như gãy xương hông.
Người bị hoại tử xương thường sẽ phát triển tình trạng đau xương một cách từ từ. Với các tổn thương nhỏ, tình trạng hoại tử có thể tự khỏi mà không cần điều trị. Nhưng với những tổn thương xương lớn hơn, điều trị bao gồm dùng thuốc, vật lý trị liệu và/hoặc phẫu thuật.
Ung thư xương
Theo Viện ung thư Quốc Gia của Mỹ, ung thư xương có thể là ung thư nguyên phát tại xương hoặc ung thư thứ phát do di căn từ các phần khác của cơ thể như phổi, vú hay tuyến tiền liệt. Có một vài loại ung thư xương nguyên phát như bệnh bạch cầu ác tính, osteosarcoma (u xương tạo xương ác tính), sarcoma Ewing (chỉ những khối u nghiêm trọng trong xương), malignant fibrous histiocytoma (loại ung thư xương phát triển ở những mô mềm như gân, dây chằng, cơ,…) và chondrosarcoma (bệnh bắt nguồn từ những khối u xuất hiện ở những tế bào sụn).
Bệnh còi xương và nhuyễn xương
Còi xương và nhuyễn xương được đặc trưng bởi sự thiếu khoáng chất trong xương, khiến xương yếu, giòn và dễ gãy hơn. Còi xương chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em còn nhuyễn xương chủ yếu ảnh hưởng tới người lớn. 2 bệnh này có thể có nguyên nhân là do thiếu vitamin D trong chế độ ăn, hoặc do giảm khả năng hấp thu, chuyển hóa loại vitamin này của hệ tiêu hóa. Trẻ em bị còi xương tường sẽ bị thấp còi và cong xương chân. Các triệu chứng khác đi kèm với bệnh còi xương và nhuyễn xương bao gồm đau xương lan tỏa và căng tức và yếu cơ. Điều trị chủ yếu bao gồm bổ sung vitamin D và có thể kết hợp thêm các biện pháp điều trị khác, phụ thuộc vào nguyên nhân tiềm ẩn gây bệnh.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Một số điều cần biết khi gãy xương
Sau một ngày dài tất bật với công việc cơ quan và chăm lo cho con cái, khoảng thời gian tĩnh lặng lúc đêm muộn thường là lúc các bậc phụ huynh mới thực sự có giây phút thư giãn cho riêng mình. Đi cùng với một bộ phim hay hay những trang mạng xã hội thường là thói quen nhâm nhi một bát mì nóng hổi, một chút bánh kẹo ngọt hay những món đồ ăn vặt còn sót lại trong tủ lạnh. Sự chiều chuộng bản thân này tưởng chừng như vô hại và giúp giải tỏa căng thẳng rất tốt, nhưng thực chất lại đang âm thầm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể. Việc thường xuyên nạp thức ăn vào thời điểm cơ thể cần nghỉ ngơi sẽ phá vỡ nhịp độ tự nhiên, kéo theo hàng loạt rủi ro về bệnh lý và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta.
Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.
Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.
Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.