Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Vitamin D - “lá chắn” kỳ diệu cho sức khỏe

Hệ miễn dịch (HMD) là một hệ thống phức tạp, là “lá chắn” bảo vệ cơ thể trước những tác nhân gây bệnh từ môi trường. Để xây dựng một HMD cơ thể khỏe mạnh cần có sự tham gia của nhiều yếu tố. Khoa học đã chứng minh Vitamin D có hiệu quả nâng cao miễn dịch thông qua nhiều cơ chế khác nhau.

HMD giúp phòng chống lại những chất lạ, đặc biệt các vi khuẩn, siêu vi, vi nấm… Khi một chất lạ “xâm nhập” vào trong cơ thể, HMD nhanh chóng “điều quân” như các chiến binh ra chặn đứng và loại trừ… “kẻ lạ”.

Hệ miễn dịch - kẻ “gác cửa” trọng yếu

Đầu tiên, các “chiến binh” của HMD là “thực bào” (macrophage), một loại tế bào bạch cầu, đến tấn công “ăn thịt” mầm bệnh, đồng thời gửi cảnh báo thông tin đến toàn hệ miễn dịchlà có kẻ thù xâm nhập. Các “chiến binh” này dồn về đóng quân tại các căn cứ gần quân địch nhất đó là các hạch bạch huyết (nằm ở mang tai, cổ, nách, bẹn).

Kế tiếp là hoạt động của các tế bào bạch cầu gọi là tế bào lympho. Tế bào lympho sinh ra trong tủy xương. Một số ở lại tủy và phát triển thành tế bào lympho B (tế bào B), số khác đi đến tuyến ức và trở thành tế bào lympho T.

Tế bào B phát sinh từ tủy xương và tăng trưởng trong các dịch cơ thể. Các tế bào B có khả năng phân biệt các tế bào của cơ thể và tế bào lạ là mầm bệnh xâm nhập. Các tế bào B sẽ bám lấy chất lạ là mầm bệnh, và có phản ứng bằng cách sản xuất thật nhiều chất gọi là kháng thể.

Mỗi tế bào lympho B tạo ra một kháng thể cụ thể.  Có 2 loại tế bào lympho T khác nhau: Các tế bào Helper T (tế bào lympho T giúp đỡ) - phối hợp các phản ứng miễn dịch bằng cách kích thích tế bào B tạo ra nhiều kháng thể hơn. Các tế bào Killer T (tế bào lympho T gây độc tế bào hay tế bào T giết) - như tên gọi, các tế bào T này tấn công các tế bào khác là mầm bệnh, đặc biệt hữu ích trong tiêu diệt các tế bào bị nhiễm bệnh.

Vitamin D - “lá chắn” kỳ diệu cho sức khỏe

Vitamin D được tổng hợp thông qua ánh nắng mặt trời.

Hiệu năng đa dạng của vitamin D

Vitamin D là một trong 4 vitamin tan trong dầu (gồm vitamin A, D, E, K). Vitamin D có tên khoa học là calciferol, được cung cấp từ thực phẩm có hai dạng: vitamin D2 hay ergocalciferol hiện diện trong thực vật, có trong nấm men và một số loại nấm. Vitamin D3 hay cholecalciferol có trong động vật, nhiều nhất là dầu gan cá biển sâu.

Vitamin D không chỉ là “của trời cho”  tìm thấy từ các loài động vật mà còn thấy từ một số loài thực vật. Một số loại nấm, đặc biệt là vi nấm như nấm men (yeast) chứa sẵn hợp chất esgosterol biến thành ergocalciferol tức vitamin D2.

Với con người chúng ta, ở vùng thượng bì của da có chứa hợp chất 7-dehydrocholesterol cũng được xem là tiền vitamin D. Khi có tia cực tím có trong ánh nắng mặt trời (đặc biệt là UVB, có bước sóng 290-325nm) chiếu vào da sẽ biến tiền vitamin D thành cholecalciferol tức vitamin D3. Các nhà khoa học ghi nhận, chỉ cần 10 phút để cho hai tay và khuôn mặt lộ ra dưới nắng mặt trời không cần gắt lắm là đủ cho việc tổng hợp vitamin D với lượng cần thiết cho cả một ngày.

Vai trò chính của vitamin D là tạo xương bằng cách duy trì lượng calci và phospho có sẵn trong cơ thể để hóa xương. Nếu thiếu vitamin D, sẽ thiếu chất khoáng cho xương và răng đưa đến còi xương, nhuyễn xương, loãng xương, răng của trẻ không phát triển tốt.

Ngày nay, người ta còn phát hiện thêm tác dụng mới của vitamin D. Đó là tăng cường HMD, tức giúp nâng cao sức đề kháng của cơ thể chống lại các bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là biệt hóa bạch cầu thành những tế bào có sức chiến đấu cao có khả năng tiêu diệt mầm bệnh.

Cơ chế nâng cao miễn dịch của Vitamin D đã được chứng minh thông qua việc cải thiện hoạt động của tế bào T giúp đỡ và cả tế bào T giết… Một khi tế bào T được kích hoạt thì tế bào B cũng được kích hoạt. Nghĩa là hầu như kích hoạt toàn bộ HMD.

Vitamin D

Nâng cao HMD không chỉ giúp các tế bào miễn dịch chống lại tác nhân gây hại tốt hơn mà còn giúp các tế bào miễn dịch “xung đột” lẫn nhau, hay còn gọi là bị bệnh “tự miễn”. Vì vậy, vitamin D còn được chứng minh là nòng cốt trong việc kích hoạt tế bào T, loại tế bào liên quan nhiều bệnh lý tự miễn như chàm da hoặc dị ứng như hen suyễn…

Những năm 1990 của thế kỷ trước, tỷ lệ hen suyễn ở mọi lứa tuổi đều tăng đột biến. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành đánh giá các yếu tố gây tăng hen suyễn, đặc biệt ở trẻ em. Một trong những giả thuyết được đưa ra đó chính là vì con người chủ yếu làm việc trong văn phòng, ít tiếp xúc với ánh sáng mặt trời nên thiếu hụt vitamin D - loại vitamin không chỉ liên quan đến hệ cơ xương mà còn liên quan đến hệ miễn dịch.

Sữa mẹ chứa rất ít vitamin D3 nên bản thân mẹ trong giai đoạn mang thai phải bổ sung cả canxi-vitamin D3 và bé bú mẹ hoàn toàn nên bổ sung vitamin D3. Một câu hỏi đặt ra: “Nếu mẹ nguy cơ cao hen suyễn, bổ sung vitamin D trong thai kỳ thì liệu có phòng ngừa được hen suyễn cho con không?”.

Năm 2016, thử nghiệm lâm sàng VDAART được công bố sau 7 năm dày công nghiên cứu chứng minh rằng, bổ sung vitamin D3 liều 4400IU giúp nâng nồng độ 25-hydroxyvitamin D trong máu cao hơn nhóm bổ sung 400IU.  Kết quả từ thử nghiệm VDAART cũng ghi nhận: “Mẹ bổ sung vitamin D suốt thai kỳ giúp giảm tỷ lệ khò khè (giảm tỷ lệ khò khè chứ không giảm hẳn tỷ lệ hen suyễn) ở trẻ nhỏ, đặc biệt, trong năm đầu tiên của cuộc đời”.

Một số nghiên cứu khác cũng chứng minh việc bổ sung vitamin D cho trẻ giúp giảm tỷ lệ khò khè ở trẻ em tuổi mẫu giáo. Một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của khò khè ở nhóm trẻ tuổi mẫu giáo là nhiễm siêu vi, không liên quan dị ứng như hen suyễn; nên nghiên cứu này tiếp tục nhấn mạnh vai trò của vitamin D đối với HMD.

Ở Việt Nam, nhu cầu khuyến nghị về Viatmin D năm 2007 là 200 IU/ngày ở trẻ em và người trưởng thành (kể cả phụ nữ có thai và cho con bú), 400 IU/ngày ở người 51 - 60 tuổi, và 600 IU/ngày với người > 60 tuổi.

Nhưng bằng chứng từ những nghiên cứu dịch tễ học gần đây cho thấy, tỷ lệ thiếu Vitamin D ở người Việt Nam trong những năm qua rất cao so với các nước xung quanh, ở tất cả các lứa tuổi và tình trạng sinh lý.

Vì vậy, bảng nhu cầu khuyến nghị về Vitamin D lần này đã cập nhật theo khuyến nghị của Viện nghiên cứu Y học Hoa Kỳ năm 2011, trong đó, nhu cầu Vitamin D ở trẻ < 1 tuổi là 400 IU/ngày, ở trẻ em từ 1 tuổi trở lên và người trưởng thành < 50 tuổi là 600 IU/ngày, ở người trưởng thành từ 50 tuổi trở lên và phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú là 800 IU/ngày.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Vitamin D có thể giúp giảm trầm cảm?
Theo Sức Khỏe & Đời Sống
Bình luận
Tin mới
  • 12/07/2026

    Ăn hạt sen hàng ngày có tốt không?

    Hạt sen là thực phẩm giàu dinh dưỡng, được nhiều người yêu thích nhờ vị bùi thơm, dễ chế biến và có nhiều lợi ích cho sức khỏe. Tuy nhiên, ăn hạt sen mỗi ngày có tốt hay không và những ai cần thận trọng khi sử dụng loại thực phẩm này?

  • 12/07/2026

    Phương pháp xây dựng và duy trì lộ trình đi bộ khoa học

    Đi bộ được công nhận là một hình thức vận động cường độ trung bình có tác động tích cực đến nhiều hệ thống sinh học trong cơ thể.

  • 11/07/2026

    6 loại thực phẩm giúp cơ thể hấp thụ vitamin D tốt nhất

    Vitamin D đóng vai trò thiết yếu giúp xương chắc khỏe, cải thiện tâm trạng và tăng cường hệ miễn dịch. Vì là loại vitamin tan trong chất béo, vitamin D được hấp thụ hiệu quả nhất tại đường ruột khi tiêu thụ cùng các thực phẩm chứa chất béo. Tham khảo 6 loại thực phẩm hỗ trợ quá trình này.

  • 11/07/2026

    Cách sử dụng điều hòa đúng cách để tránh khô da và khô mắt

    Trong bối cảnh thời tiết nắng nóng của mùa hè, việc sử dụng điều hòa là nhu cầu không thể thiếu nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sức khỏe như mệt mỏi, viêm đường hô hấp và tình trạng khô da, khô mắt do mất độ ẩm. Để giải quyết vấn đề này, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ đưa ra những khuyến nghị và giải pháp khoa học giúp cân bằng giữa việc giải nhiệt và bảo vệ cơ thể. Việc tuân thủ các hướng dẫn về cách vận hành máy lạnh hợp lý không chỉ giúp ngăn chặn các tác dụng phụ tiêu cực mà còn đảm bảo duy trì một không gian sống mát mẻ, an toàn và lành mạnh cho mọi thành viên trong gia đình.

  • 10/07/2026

    Khoai lang – món ăn dưỡng tỳ vị: 5 lợi ích khi dùng vào bữa sáng

    Khoai lang là thực phẩm giàu chất xơ, vitamin và khoáng chất, thường được nhiều người lựa chọn cho bữa sáng. Tuy nhiên, ăn khoai lang mỗi ngày có tốt không và ai nên hạn chế loại thực phẩm này?

  • 10/07/2026

    9 giải pháp thay thế Melatonin giúp bạn ngủ ngon hơn một cách tự nhiên

    Melatonin là một loại hormone điều chỉnh chu kỳ ngủ - thức của cơ thể và thường được sử dụng dưới dạng thực phẩm chức năng để hỗ trợ giấc ngủ. Tuy nhiên, vì melatonin có thể không phù hợp với tất cả mọi người, một số người có thể tìm đến các phương pháp thay thế khác như thực phẩm chức năng và các bài thuốc thảo dược.

  • 09/07/2026

    5 tác hại khi bỏ ăn cơm trắng, cắt giảm hoàn toàn tinh bột

    Bỏ ăn cơm trắng, hoàn toàn không ăn tinh bột để giảm cân cấp tốc là sai lầm tai hại khiến cơ thể suy kiệt. Dưới đây là 5 hệ lụy nguy hiểm khi đột ngột cắt bỏ nguồn năng lượng này.

  • 09/07/2026

    Nguyên nhân gây ho sau khi chạy bộ và cách phòng tránh

    Chạy bộ có thể dẫn đến ho do lượng không khí hít vào tăng lên và các chất gây kích ứng tiềm ẩn, như không khí lạnh hoặc khô. Hiểu rõ các nguyên nhân, chẳng hạn như co thắt phế quản do vận động hoặc dị ứng, có thể giúp bạn thực hiện các bước để ngăn ngừa tình trạng này.

Xem thêm