Trong cơ thể, Kali là một trong những chất điện giải chính cùng với natri tham gia điều hòa cân bằng nước và điện giải giúp duy trì hoạt động bình thường của các cơ quan. Kali đảm bảo hiệu điện thế màng, tính chịu kích thích của thần kinh - cơ giúp cho hoạt động của cơ bắp trong đó có cơ tim. Cùng với Kali, Magie cũng tham gia vào hoạt động của cơ bắp, điều hòa hệ thống thần kinh, đảm bảo cho cơ tim co bóp bình thường. Magie tham gia vào hơn 600 phản ứng sinh hóa trong cơ thể, tham gia quá trình tạo năng lượng, tổng hợp protein từ các axit amin.
Ở người trưởng thành bình thường, nhu cầu Kali mỗi ngày khoảng 4700mg và Magie là khoảng 350 - 400 mg/ngày. Nhu cầu này tăng hơn ở những người trên 45 tuổi, những trường hợp vận động thể lực nhiều như chơi thể thao, vận động viên thể thao tập luyện với cường độ cao, hoạt động ngoài trời liên tục làm tăng tiết mồ hôi, các trường hợp đang theo chế độ ăn kiêng hoặc sử dụng các thuốc giảm cân tác dụng nhuận tràng, thuốc tránh thai, lợi tiểu…


Kali đóng vai trò quan trọng cho một trái tim khỏe, sự di chuyển của ion Kali giữa trong và ngoài tế bào giúp duy trì nhịp tim đều đặn. Rối loạn điện giải do mất cân bằng Kali và Magie tác động xấu đến hoạt động tim mạch gây nên các bệnh tăng huyết áp, loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim. Khuyến cáo của WHO năm 2012 cho thấy tăng lượng bổ sung Kali sẽ hỗ trợ giảm huyết áp, giảm nguy cơ bệnh tim mạch, đột quỵ, bệnh mạch vành. Thêm 391 mg Kali vào chế độ ăn hàng ngày sẽ làm giảm 40% nguy cơ đột quỵ, thường xuyên bổ sung Magie sẽ làm hỗ trợ giảm 50% nguy cơ nhồi máu cơ tim.
Cân bằng dịch giữa trong và ngoài tế bào bị ảnh hưởng bởi nồng độ các chất điện giải đặc biệt là Kali và Natri. Sự di chuyển của ion Kali đi vào trong tế bào thay thế ion Natri đi ra kéo theo phân tử nước ra ngoài dẫn tới giảm phù, giảm huyết áp. Các nghiên cứu cho thấy, ở những người bị tăng huyết áp được bổ sung Kali sẽ làm huyết áp tâm thu giảm 3,49 mmHg và huyết áp tâm trương giảm 1,96 mmHg. Như vậy, một chế độ ăn ít Natri, giàu Kali có ý nghĩa với cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương.
Không chỉ giúp giảm nhẹ huyết áp, Kali và Magie còn giúp cơ tim được thư giãn giúp máu đưa oxy và chất dinh dưỡng đến nuôi cơ tim. Cung cấp lượng Kali và Magie đầy đủ cho cơ thể còn giúp cho trái tim khỏe mạnh, và giữ trái tim đập đúng nhịp.
Vai trò của Kali và Magie ở người đái tháo đường
Kali và Magie không chỉ là nguồn dinh dưỡng cho trái tim mà còn đóng vai trò quan trọng trong các phản ứng sinh hóa tế bào và chuyển hóa năng lượng. Tại tế bào, Kali và Magie tham gia tổng hợp protein từ axit amin, tham gia chuyển hóa carbohydrat giúp chuyển glucose thành glycogen dự trữ ở gan. Bổ sung Magie hỗ trợ cải thiện tình trạng đề kháng insulin ở những người mắc đái tháo đường hoặc hội chứng chuyển hóa. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có chế độ ăn ít Magie có nguy cơ mắc đái tháo đường về sau.

Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, với Kali lượng ăn vào gần như được hấp thu hoàn toàn nhưng lượng Magie đưa vào qua thức ăn chỉ hiệu quả bằng 1/25 lượng kali đưa vào. Chế biến thức ăn có thể làm mất 70% lượng Magie. Vì vậy cần tăng lượng bổ sung đồng thời cả Kali và Magie qua đường uống trong các trường hợp cơ thể gia tăng nhu cầu sử dụng Kali và Magie hoặc trong một số trường hợp bệnh lý như: tăng huyết áp, suy tim, sau nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim, các trường hợp sử dụng thuốc lợi tiểu mất kali kéo dài, sử dụng glucoside trợ tim…, một số bệnh lý đường tiêu hóa như rối loạn tiêu hóa, viêm loét dạ dày, bệnh lý cơ xương khớp, đái tháo đường…
Hiện nay trên thị trường có nhiều sản phẩm viên uống Kali, Magiesử dụng để bổ sung đồng thời Kali và Magie dưới dạng muối. Trong đó, dạng muối hữu cơ (như aspatarte, glutamate,…) sẽ dễ hấp thu và có mùi vị dễ chịu hơn so với các dạng muối vô cơ (clorid, carbonate,…). Tùy thuộc vào nhu cầu của cơ thể cũng như trong từng trường hợp cụ thể.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Thuốc lợi tiểu điều trị tăng huyết áp và tăng kali máu
Tỏi và mật ong là hai thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của người Việt. Ngoài giá trị dinh dưỡng, chúng còn được nghiên cứu về một số tác dụng sinh học có lợi cho sức khỏe khi sử dụng hợp lý.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Thời gian gần đây, trào lưu “ăn chống viêm”, “thải độc” hay “tăng miễn dịch cấp tốc” với những lời khuyên “bỏ sữa ngay để trị mụn”, “gluten (ngũ cốc) là thủ phạm gây viêm não” trở nên phổ biến trên mạng xã hội.
Việc có những ngày sinh hoạt đều đặn có thể giúp bạn cảm thấy ổn định hơn khi cuộc sống trở nên căng thẳng. Nhưng một số thói quen nhỏ, thường bị bỏ qua, lại có thể gây hại cho sức khỏe của bạn, dẫn đến căng thẳng về thể chất hoặc tinh thần theo thời gian.
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.