Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Hạ huyết áp với chế độ ăn nhiều kali, ít đường - Phần 2

Chế độ ăn quá nhiều muối thường được cho là nguyên nhân gây tăng huyết áp.

Thay đổi lối sống cũng là một cách hạ huyết áp

Nhiều người nói rằng họ muốn có một lối sống lành mạnh, nhưng  rât ít người có thể theo đuổi một cách nghiêm túc từ ngày này qua ngày khác. Huyết áp ảnh hưởng đến toàn bộ các cơ quan trong cơ thể. Chính vì thế mục tiêu của một lối sống khỏe mạnh vẫn chú trọng nhất vào việc làm thế nào để ổn định được huyết áp.

Hạn chế lượng muối nạp vào là một cách thông minh và một cách khác nữa là giảm lượng đường nạp vào. Nếu muối đã không tốt cho sức khỏe thì đường còn không tốt nữa.

Tránh xa những thực phẩm chế biến sẵn vì các loại này chứa nhiều muối tinh, đường tinh chế- đây mới chính là thủ phạm thực sự của bệnh tăng huyết áp mà từ đó dẫn đến nhiều bệnh khác như rối loạn chuyển hóa, xơ vữa động mạch và đột quỵ tim. Ngày càng nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng đường là tác nhân gây ra nhiều biến chứng của cao huyết áp. Trên thực tế một nghiên cứu dã cho thấy phụ nữ uống một lon nước ngọt mỗi ngày sẽ có huyết áp cao hơn những người uống ít hơn thế.

Làm thế nào để giảm huyết áp tự nhiên

Phần lớn các bác sỹ đều khuyên bệnh nhân tăng huyết áp cao nên có một lối sống  lành mạnh và uống thuốc theo đơn. Nhưng nếu như có một lối sống lành mạnh đủ tốt thì có lẽ bạn cũng không cần đến  những viên thuốc hạ áp nữa. Một lối sống lành mạnh không chỉ tốt cho sức khỏe nói chung, phòng chống được nhiều bệnh mà còn không tiêu tốn nhiều thời gian, tiền bạc của bạn nữa. Dưới đây là một vài lời khuyên nho nhỏ:

  • Hít thở. Hít sâu thở chậm, kiểm soát được nhịp thở, giúp cải thiện nhịp tim, điều hoà việc co giãn mạch linh hoạt hơn do đó huyết áp cũng được  điều hoà theo.
  • Thư giãn. Stress luôn mang lại nhiều ảnh hưởng bất lợi đến cơ thể bạn hơn bạn nghĩ. Giận dỗi, tức giận khiến sản sinh ra những hóc môn ảnh hưởng đến các vấn đề tim mạch. Vì vậy bạn phải học cách kiểm soát, thư giãn cơ thể.
  • Cắt giảm lượng cà phê và đồ uống có cồn. Cà phê nếu uống một lượng vừa phải và uống đúng cách sẽ có những tác dụng rất tốt đến cơ thể. Nhưng dối với những người lạm dụng cà phê thì lại dẫn đến nhiều nguy cơ  sức khỏe hơn, chưa kể là những loại cà phê hòa tan luôn chứa lượng đường lớn hơn cà phê do vậy mà việc cắt giảm cà phê cũng nên được thực hiện. Đồ uống có cồn cũng thế, cũng là một loại đồ uống kích thích cơ thể. Do vậy việc cắt giảm hai loại đồ uống này  cũng đúng nghĩa là thư giãn cơ thể.
  • Đi bộ và tập thể dục thường xuyên giúp cho việc bơm máu đi khắp cơ thể được hiệu quả hơn, giảm được áp lực lên động mạch. Chỉ cần 150 phút tập thể dục cường độ trung bình hoặc đi bộ hoặc 75 phút tập thể dục cường độ mạnh như bài tập HIIT sẽ giúp bạn phòng chống được nhiều bệnh tật hơn
  • Giảm cân và duy trì cân nặng hợp lý luôn là một trong những cách tốt nhất để phòng chống các bệnh mạn tính không lây.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Các cách để hạ huyết áp không cần dùng thuốc

Ts.Bs. Trương Hồng Sơn - Viện Y học ứng dụng Việt Nam
Bình luận
Tin mới
  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

  • 28/10/2026

    Các bệnh thần kinh dễ gặp phải khi trời chuyển đông

    Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.

  • 27/10/2026

    Sơ cứu bỏng nhiệt và bỏng nước sôi đúng cách

    Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.

  • 27/10/2026

    Ung thư vú: Ai dễ mắc và Cách tự khám tại nhà trong 5 phút

    Trong hành trình yêu thương bản thân, việc thấu hiểu cơ thể là bước đầu tiên để phái đẹp bảo vệ sức khỏe trọn vẹn. Ung thư vú là căn bệnh thường gặp do các tế bào tuyến vú phát triển ngoài tầm kiểm soát, nhưng hoàn toàn có thể chữa lành hiệu quả khi được phát hiện kịp thời, giúp việc điều trị trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Nhằm đồng hành và tiếp thêm sự tự tin cho chị em, Viện Y học Ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những dấu hiệu nhận biết cùng các bước tự kiểm tra tại nhà đơn giản. Đây sẽ là giải pháp lắng nghe cơ thể hiệu quả, giúp phái đẹp luôn chủ động gìn giữ sức khỏe và an yên trong cuộc sống.

  • 26/10/2026

    Thịt sống, rau sống và thực phẩm chín trong tủ lạnh: Những sai lầm bảo quản khiến nguy cơ nhiễm khuẩn tăng cao

    Tủ lạnh giúp làm chậm sự phát triển của vi khuẩn nhưng không tiêu diệt được chúng. Việc sắp xếp thịt sống, rau sống và thức ăn chín không đúng cách có thể khiến vi khuẩn lây chéo giữa các loại thực phẩm và gây ngộ độc thực phẩm ngay tại gia đình.

  • 26/10/2026

    Phòng ngừa cảm cúm mùa khi giao mùa

    Thời điểm giao mùa, khi nhiệt độ và độ ẩm không khí thay đổi liên tục, là giai đoạn virus cúm hoạt động mạnh nhất trong năm. Đây cũng là lúc số ca mắc cúm mùa tại các cơ sở y tế tăng cao, đặc biệt ở trẻ nhỏ, người cao tuổi và người có bệnh nền.

Xem thêm