Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất của phụ nữ trên toàn thế giới. Tỷ lệ mắc ung thư vú ngày càng gia tăng do các yếu tố về môi trường, di truyền, chế độ ăn và nội tiết.
Tuy nhiên tỉ lệ tử vong đã được giữ ổn định nhờ các thành tựu đạt được trong sàng lọc phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời.
Trung bình mỗi năm tại Việt Nam có khoảng 12.000 người mắc mới mỗi năm.
Theo Báo cáo ghi nhận ung thư toàn cầu Globocan 2020, tại Việt Nam, trong số ung thư ở nữ, số người mới mắc ung thư vú đứng hàng thứ nhất, với 21.555 người...
1. Nguyên nhân gây bệnh ung thư vú
Cho đến thời điểm hiện nay, nguyên nhân gây ung thư vú còn chưa rõ ràng, vì thế việc phòng ngừa còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đã tìm ra những yếu tố nguy cơ gây ung thư vú:
- Yếu tố nội tiết:
Nồng độ Estrogen nội sinh ở những phụ nữ bị ung thư vú cao hơn so với những người không bị ung thư.
Điều trị nội tiết có hiệu quả đối với những bệnh nhân ung thư vú có thụ thể estrogen dương tính
Tỷ lệ ung thư vú gặp ở đàn ông rất thấp (<1% trong tổng số ung thư vú ở cả hai giới).
Những người có kinh nguyệt sớm, mãn kinh muộn đều có nguy cơ ung thư vú cao hơn.
- Tiền sử kinh nguyệt và sinh sản:
Những người có kinh lần đầu trước 13 tuổi và mãn kinh sau 55 tuổi đều có nguy cơ ung thư cao gấp 2 lần so với những người có kinh lần đầu từ 13 tuổi trở lên và mãn kinh trước 45 tuổi.
Phụ nữ chưa sinh đẻ lần nào, phụ nữ có thai lần đầu trên 30 tuổi, phụ nữ dưới 18 tuổi hoặc trên 30 tuổi có phá thai sử dụng thuốc kích thích: đều tăng nguy cơ mắc ung thư vú.
- Hormon tránh thai:
Những phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai liên tục kéo dài hoặc điều trị hormon thay thế sau mãn kinh làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú
- Tiền sử gia đình:
Những người có mẹ, chị, em gái, con gái mắc ung thư vú thì bản thân có nguy cơ cao hơn những người không có tiền sử gia đình.
- Yếu tố do gen:
Có một số gen gây tăng nguy cơ ung thư vú nhưng ở các mức độ khác nhau, gồm: Gen BRCA 1, 2, 3; gen p53, gen thụ thể androgen.
- Tuổi:
Trước đây ung thư vú thường gặp ở lứa tuổi 45 - 55 tuổi. Giờ đây độ tuổi mắc ung thư vú ngày càng trẻ hóa
- Ảnh hưởng của phóng xạ:
Gặp tỷ lệ ung thư vú cao hơn ở những người được điều trị bằng tia xạ, những người chịu tác động của vụ nổ bom nguyên tử Hiroshima và Nagasaki.
- Các yếu tố về hình thái học
Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng: ăn nhiều chất béo bão hòa, thừa cân béo phì đều làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú.
Sử dụng thuốc chống trầm cảm (Paroxetine)
Thuốc lá: Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú.

Cho đến thời điểm hiện nay, nguyên nhân gây ung thư vú còn chưa rõ ràng, vì thế việc phòng ngừa còn nhiều khó khăn.
2. Một số dấu hiệu giúp nhận biết ung thư vú
Ung thư vú ở giai đoạn đầu thường không gây đau đớn và có thể không có triệu chứng gì. Các chị em có thể không nhận thấy các triệu chứng ung thư, hoặc có thể bỏ qua, cho rằng chúng ít nghiêm trọng. Nhưng khi các triệu chứng dưới đây kéo dài hơn hai tuần, chúng có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư vú:
- Có cảm giác đau tức ở vú: Đau cả trong những ngày ngoài chu kỳ kinh nguyệt. Quan sát thấy một phần hoặc toàn bộ vú to lên bất thường.
- Nổi u cục ở vú: Thấy u cục nổi ở trong vú giống như những viên sỏi nhỏ. Đôi khi thấy xuất hiện hạch ở hố nách.
- Thay đổi ở da: Thường gặp nhất là da bị dính, có dạng như "lúm đồng tiền".
- Thay đổi hình dạng đầu núm vú: Khi khối ung thư xâm lấn gây co kéo đầu vú nên xuất hiện tình trạng lệch đầu vú, đầu vú teo và lõm xuống, hai đầu vú không cân đối.
- Chảy dịch ở núm vú, có thể dịch có máu.
- Đau ở vai, lưng trên hoặc cổ: Ở một số phụ nữ mắc ung thư vú, họ cảm thấy đau ở lưng hay vai chứ không phải ở ngực hoặc vú. Cơn đau thường xảy ra ở phần lưng trên hoặc giữa 2 bả vai, dễ bị nhầm lẫn với tổn thương dây chằng, viêm xương khớp.
- Vú bị đỏ và sưng: Nhiều người trải qua các triệu chứng như ngực nóng, hay ửng đỏ (thậm chí có màu tím), sưng đau… thường chỉ nghĩ đơn giản là nhiễm trùng, chẳng hạn như viêm vú. Tuy nhiên, đây cũng là dấu hiệu của ung thư vú viêm.
3. Chẩn đoán ung thư vú
Quan trọng nhất là dựa vào khám lâm sàng, chụp nhũ ảnh và xét nghiệm tế bào khối u. Ngoài ra còn một số phương pháp khác hỗ trợ cho chẩn đoán như: siêu âm tuyến vú, sinh thiết kim vú, chụp MRI tuyến vú…
4. Điều trị ung thư vú
Tùy từng giai đoạn của bệnh mà áp dụng các phương pháp điều trị khác nhau với từng người bệnh cụ thể. Các phương pháp cơ bản trong điều trị ung thư vú là:
- Phẫu thuật: Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú hoặc phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến vú.
- Hóa trị liệu
- Xạ trị
- Tùy từng giai đoạn bệnh mà có thể cần phối hợp các phương pháp trên.
Điều trị ung thư vú tùy thuộc vào giai đoạn bệnh có thể áp dụng các chiến lược điều trị khác nhau. Các phương pháp cơ bản trong điều trị là phẫu thuật, bên cạnh đó có xạ trị và hóa trị liệu.
Ngoài ra, các trường hợp có thụ thể hormone dương tính có thể áp dụng hormone trị liệu, phương pháp điều trị đích.
5. Tại sao phụ nữ cần đi tầm soát ung thư vú càng sớm càng tốt và độ tuổi nào nên tầm soát?
Ung thư vú chính là kẻ giết người thầm lặng. Hiện nay còn nhiều người thường không quan tâm đến sức khỏe của mình dẫn đến khi phát hiện ra bệnh đều vào giai đoạn muộn. Từ đó rất khó điều trị và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của bệnh nhân ung thư.

Nếu bệnh nhân được phát hiện sớm và có phương pháp điều trị kịp thời khả năng chữa lành bệnh là rất cao. Bệnh nhân có thể sống trên 5 năm là khoảng hơn 90%. Tuy nhiên nếu bệnh nhân phát hiện khi bệnh ở giai đoạn cuối nếu có điều trị bệnh thì cơ hội sống thêm 5 năm là rất thấp, khoảng 20%.
Vì vậy mọi người cần trang bị thêm cho bản thân những kiến thức về bệnh ung thư vú như: dấu hiệu nhận biết ung thư vú sớm, phòng ngừa ung thư vú, cách tự khám vú... để có thể phát hiện bệnh sớm và có liệu pháp can thiệp kịp thời để không bỏ lỡ mất cơ hội vàng chữa bệnh.
Đồng thời hãy tầm soát ung thư vú càng sớm càng tốt. Phụ nữ từ 20 - 40 tuổi và trên 60 tuổi nên khám sàng lọc ung thư vú định kỳ mỗi năm 1 lần. Phụ nữ từ 40 – 60 tuổi nên tầm soát ung thư vú 1 năm 2 lần.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Cách tự khám vú tầm soát ung thư.
Hệ miễn dịch chỉ hoạt động hiệu quả khi duy trì được trạng thái cân bằng nội môi, tránh tình trạng viêm quá mức gây tổn thương mô. Các nghiên cứu hiện đại đã chứng minh rằng các hợp chất thực vật như Flavonoid, Catechin và Mogroside có trong các loại trà thảo mộc có khả năng can thiệp tích cực vào quá trình bảo vệ niêm mạc và điều hòa miễn dịch.
Cái lạnh thường khiến chúng ta ngại chạm tay vào những miếng mặt nạ mát lạnh. Tham khảo những loại mặt nạ phù hợp cho mùa đông và bí quyết để duy trì thói quen dưỡng da ngay cả trong những ngày giá rét nhất.
Đau nhức do phát triển là những cơn đau âm ỉ hoặc đau nhói kiểu chuột rút mà trẻ em có thể gặp phải và thường gặp nhất là ở chân. Những cơn đau này thường xảy ra vào cuối ngày hoặc ban đêm, đau ở cả hai chân và tình trạng sẽ đỡ hơn khi trẻ nghỉ ngơi. Vậy nguyên nhân gây ra các cơn đau này ở trẻ là gì? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết sau đây!
Trứng là nguồn thực phẩm giá rẻ và giàu dinh dưỡng nhưng hàm lượng cholesterol trong trứng luôn là vấn đề gây băn khoăn. Liệu việc duy trì thói quen ăn trứng hàng ngày có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch như nhiều người lo ngại?
Natri có trong muối ăn và nhiều loại gia vị khác nhau; chúng cần được kiểm soát trong các bệnh thận, tăng huyết áp và các vấn đề về tim mạch. Kiểm soát nước sốt và gia vị giúp duy trì lượng natri dưới mức giới hạn 2.300 miligam (mg) mỗi ngày, tương đương khoảng một thìa cà phê muối theo các khuyến nghị Y tế.
Phản ứng viêm là một quá trình sinh học đa bước, đòi hỏi sự can thiệp từ nhiều nhóm hợp chất khác nhau để đạt được hiệu quả điều hòa tối ưu. Từ khả năng làm giảm giải phóng histamine của La hán quả đến tác động ức chế nitric oxide của Hạ khô thảo và đặc tính chống oxy hóa mạnh mẽ của Curcumin trong Nghệ, các thảo dược đang chứng minh vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định nội môi.
Mất ngủ khi mang thai không chỉ là nỗi lo về sức khỏe mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống của mẹ bầu. Hiểu rõ nguyên nhân và áp dụng đúng các giải pháp hỗ trợ sẽ giúp mẹ cải thiện giấc ngủ nhanh chóng.
Tết Nguyên Đán là khoảng thời gian quan trọng trong văn hóa người Việt, nhưng cũng là thời điểm gây ra những xáo trộn lớn về nhịp sinh học, chế độ dinh dưỡng và thói quen vận động. Những thay đổi đột ngột này dẫn đến hội chứng "mệt mỏi hậu kỳ nghỉ", làm suy giảm hệ miễn dịch và gia tăng nguy cơ tái phát các bệnh lý mạn tính.