Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Ung thư buồng trứng không quá đáng sợ?

Ung thư buồng trứng vẫn được coi là đứng thứ 5 trong những nguyên nhân phổ biến nhất của các ca tử vong ung thư ở phụ nữ tại Mỹ (theo Hiệp hội Ung thư Mỹ).

Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đã mang lại hi vọng cho những phụ nữ được chẩn đoán mắc căn bệnh này; tỷ lệ sống 10 năm sau khi phát hiện ung thư buồng trứng là cao hơn so với suy nghĩ trước đây.

Tin vui cho bệnh nhân ung thư buồng trứng

"Nhận thức rằng gần như tất cả các phụ nữ bị tử  vong vì bệnh này như trước đây là không đúng". Tác giả nghiên cứu - TS. Rosemary Cress - Sở Khoa học Y tế công cộng tại Đại học California-Davis (UC Davis) cho biết. Trong nghiên cứu 11.541 phụ nữ mắc ung thư buồng trứng, có gần 31% sống sót trong hơn 10 năm sau chẩn đoán.

Bà cho biết thêm: "Thông tin này sẽ rất hữu ích cho các bác sĩ chẩn đoán ban đầu và bác sĩ sản/phụ khoa - những người chăm sóc bệnh nhân sau khi họ được chữa trị từ các chuyên gia".

Nhiều bệnh nhân có khả năng sống sau hơn 10 năm chẩn đoán mắc ung thư buồng trứng.

Khoảng 21.290 phụ nữ ở Mỹ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư buồng trứng trong năm nay và hơn 14.000 dự kiến sẽ chết vì căn bệnh này. Các bệnh ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ lớn tuổi, với hơn một nửa số trường hợp được chẩn đoán ở phụ nữ tuổi từ 63 trở lên.

Theo chương trình SEER - Chương trình giám sát, dịch tễ học và kết quả cuối của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ cho biết: tỷ lệ sống 5 năm cho phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư buồng trứng là 45,6% và hơn 30% sống 10 năm.

Trong nghiên cứu của họ, Cress và các đồng nghiệp đặt ra để ước tính tỷ lệ sống 10 năm cho phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư buồng trứng.

Nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu từ California Cancer Registry (dữ liệu đăng ký ung thư California) và xác định 11.541 phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư buồng trứng biểu mô - hình thức phổ biến nhất của bệnh, chiếm 9 trong 10 trường hợp - giữa năm 1994 và 2001.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng: có 3.582 người phụ nữ, (chiếm 31%) đã sống sót trong hơn 10 năm sau chẩn đoán. Trong số những người sống sót có 954 bệnh nhân đã từng bị coi là có nguy cơ cao tử vong vì ung thư, bởi vì họ đã phát bệnh ung thư từ 1 năm trở lên tại thời điểm chẩn đoán, đã di căn hoặc được chẩn đoán bị ung thư giai đoạn cuối.

"Chúng tôi thấy một chút ngạc nhiên khi một số lượng lớn bệnh nhân mắc bệnh này đã sống sót lâu dài trong khi trước đó thường được coi là ung thư gây tử vong cao", TS. Cress nói Medical News Today.

Mặc dù nghiên cứu này là không thể xác định chính xác lý do tại sao rất nhiều phụ nữ bị ung thư buồng trứng có thể sống sót, đồng tác giả nghiên cứu này, Gary Leiserowitz của Khoa sản và phụ khoa tại Đại học UC Davis nói rằng nó có thể do đột biến gen BRCA1 và BRCA2 trong một số bệnh nhân bị bệnh; bệnh nhân có những đột biến này thường đáp ứng với hóa trị liệu tốt hơn so với những người không có. Ngoài ra, Leiserowitz nói rằng trong số các bệnh nhân ung thư buồng trứng sống sót, sự khác biệt sinh học có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị cá nhân và một số bệnh nhân có thể được điều trị hiệu quả hơn so với những người khác, làm tăng khả năng sống sót.

Ông cho biết thêm: "Đây là thông tin quan trọng để tư vấn cho bệnh nhân. Nhiều bệnh nhân và bác sĩ biết rằng ung thư buồng trứng là một bệnh ung thư nguy hiểm, nhưng họ không nhận ra rằng có sự biến đổi sinh học đáng kể giữa các bệnh nhân. Nó không phải là một tiên lượng thống nhất gây tử vong".

Cần thêm những bằng chứng

Trong khi cần thiết phải nghiên cứu thêm để xác định nguyên nhân chính xác lý do tại sao một số phụ nữ có buồng trứng ung thư tồn tại lâu dài, những phát hiện này hiện mang đến hy vọng cho hàng nghìn phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh này mỗi năm.

Jacqueline Price - một người sống sót sau chẩn đoán ung thư buồng trứng, 74 tuổi và một bệnh nhân của Leiserowitz - được chẩn đoán ở giai đoạn 3 bệnh ở tuổi 60. Họ tin rằng kết quả nghiên cứu mới nhất này sẽ giúp phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư buồng trứng hiểu rằng nó không phải là một "bản án tử hình tự động" và thúc đẩy sự lạc quan - một cảm xúc mà nghiên cứu trước đây đã chỉ ra có thể đem lại lợi ích sống còn của bệnh ung thư.

Cress nói với MNT rằng nghiên cứu nên được thực hiện để đạt được một sự hiểu biết tốt hơn về sự tồn tại lâu dài cho bệnh nhân ung thư buồng trứng, nhưng cô cũng lưu ý rằng các nhà nghiên cứu không có nguồn lực để theo dõi bệnh nhân trong thời gian dài. "Sức mạnh của nghiên cứu của chúng tôi là sự sẵn có của dữ liệu đăng ký ung thư dựa trên dân số bệnh nhân được chẩn đoán hơn 10 năm trước đây", bà nói thêm. 

Bà chỉ ra, tuy nhiên, những nghiên cứu trong tương lai nên điều tra các cơ chế cơ bản đằng sau sự tồn tại dài hạn của ung thư buồng trứng. "Các nghiên cứu trong tương lai có thể bổ sung dữ liệu đăng ký ung thư với thông tin điều trị và chi tiết hơn với dữ liệu về gen có nguồn gốc từ phân tích của các khối u buồng trứng để xác định sự đóng góp của các yếu tố này để tồn tại", cô nói với chúng tôi.

 

DS. Bùi Sỹ Thành - Theo SKĐS
Bình luận
Tin mới
  • 01/09/2026

    Cảnh báo 7 bệnh thường gặp mùa hè và cách phòng ngừa hiệu quả

    Mùa hè với nhiệt độ cao, độ ẩm lớn và thói quen sinh hoạt thay đổi là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại virus, vi khuẩn và ký sinh trùng bùng phát. Hiểu rõ các bệnh thường gặp trong mùa nắng nóng sẽ giúp bạn chủ động bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình.

  • 31/08/2026

    3 loại đồ uống cần tránh khi dùng chung với thực phẩm chức năng dầu cá

    Tốt nhất nên uống thực phẩm bổ sung dầu cá cùng với thức ăn để tăng cường khả năng hấp thụ các axit béo omega-3 có lợi. Các loại đồ uống cần tránh khi dùng thực phẩm bổ sung dầu cá bao gồm rượu và đồ uống có ga.

  • 30/08/2026

    Uống đủ nước mỗi ngày: Nhiều người đang mất nước mà không hề hay biết

    Nước chiếm 60-70% trọng lượng cơ thể và tham gia vào hầu hết mọi phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Thế nhưng, tình trạng thiếu nước mãn tính - không phải mất nước cấp tính - đang âm thầm ảnh hưởng đến sức khỏe của hàng triệu người Việt Nam mỗi ngày mà họ không nhận ra.

  • 29/08/2026

    Sự khác biệt giữa chế độ ăn phương Đông và phương Tây

    Chế độ ăn Địa Trung Hải từ lâu đã được coi là chuẩn mực cho một sức khỏe tốt. Ăn uống là một hành trình mang tính cá nhân sâu sắc, gắn liền với các mối liên hệ văn hóa, niềm tin tâm linh, thói quen và tất nhiên là cả nguồn thực phẩm sẵn có. Chế độ ăn uống trực tiếp chịu trách nhiệm cho sức sống cũng như sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi có nhiều tranh luận về việc thế nào mới chính xác là một chế độ ăn lành mạnh; bởi đây là một vấn đề quan trọng và đầy thách thức.

  • 28/08/2026

    Huyết áp của bạn sẽ thay đổi như thế nào khi bạn tập thể dục mỗi ngày?

    Tập thể dục đều đặn hàng ngày có thể làm giảm huyết áp bằng cách tăng cường sức khỏe tim mạch và cải thiện độ đàn hồi cũng như chức năng của mạch máu. Tập thể dục với cường độ vừa phải hầu hết các ngày trong tuần có thể giúp giảm huyết áp bền vững và giảm nguy cơ mắc bệnh tim.

  • 27/08/2026

    Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori và các bệnh lý liên quan

    Hơn 80% người trưởng thành tại Việt Nam nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori – tác nhân chính gây viêm loét và ung thư dạ dày. Khám phá ngay cơ chế lây truyền, quá trình phát triển bệnh và thách thức kháng kháng sinh hiện nay để chủ động bảo vệ sức khỏe gia đình bạn

  • 26/08/2026

    Hội chứng mất khả năng cảm nhận niềm vui – Anhedonia

    Hội chứng mất khả năng cảm nhận niềm vui – Anhedonia là tình trạng khiến bạn không thể trải nghiệm niềm vui hoặc sự thích thú. Bạn có thể cảm thấy tê liệt hoặc ít hứng thú hơn với những điều mà trước đây bạn từng yêu thích. Đây là một triệu chứng phổ biến của nhiều bệnh lý tâm thần như trầm cảm. Cùng tìm hiểu về hội chứng này qua bài viết sau đây!

  • 25/08/2026

    Bạn có thể ở dưới ánh nắng mặt trời bao lâu trước khi da bị tổn thương?

    Đối với hầu hết mọi người, tác hại của ánh nắng mặt trời đối với da bắt đầu trong vòng 15 phút sau khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời mà không sử dụng kem chống nắng. Tuy nhiên, thời gian có thể thay đổi tùy thuộc vào loại da và loại tia cực tím, chỉ số (UV), thời gian và địa điểm.

Xem thêm