Giới thiệu:
Bạch cầu cấp thường được gọi nôm na là “ung thư máu”.
Mặc dù Bạch cầu cấp thường được coi là bệnh lý không thể chữa khỏi, nhưng gần đây kết quả điều trị tốt hơn nhiều nếu được điều trị thích hợp, nhờ sử dụng các phương pháp điều trị tiên tiến.
Bạch cầu cấp không phải là một bệnh lý đơn lẻ mà bao gồm nhiều loại bệnh.
Bạch cầu cấp là gì ?
Ung thư máu trong tủy xương
Tế bào gốc tạo máu trong tủy xương sinh ra cả ba dòng tế bào máu khác nhau.Đó là hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.
Nguyên nhân chưa được xác định rõ ràng:
Trong nhiều trường hợp nguyên nhân không thể xác định rõ ràng. Tuy nhiên bệnh có thể được hình thành khi các gen trong tế bào máu bị tổn thương. Ví dụ: tiếp xúc với tia xạ gây tổn thương gen của tế bào, làm tăng nguy cơ xuất hiện ung thư.
Ung thư máu không phải là bệnh lý di truyền hay truyền nhiễm.
Các thể bệnh và xếp loại?
Có hai loại:
Một nhóm là bạch cầu cấp dòng tủy (AML) do các tế bào dòng tủy bị ung thư hóa và nhóm còn lại là bạch cầu cấp dòng lympho (ALL) do tế bào lympho bị tổn thương ung thư.
Hai nhóm ung thư máu có những đặc điểm khác nhau. Ví dụ, bạch cầu cấp dòng lympho thường gặp ở trẻ em hơn so với dòng tủy. Các thể bệnh bạch cầu cấp khác nhau đòi hỏi các phương pháp điều trị khác nhau và kết quả điều trị cũng khác nhau.
Bạch cầu cấp dòng tủy (AML):
Bạch cầu cấp dòng tủy phát triển do tổn thương ung thư hóa của các tế bào dòng bạch cầu hạt, hồng cầu, tiểu cầu, mà không phải dòng lympho. Bảng xếp loại FAB dựa trên hình thái tế bào xếp thành 8 thể loại khác nhau dựa trên sự phát triển của tế bào ung thư máu từ M0-M7.
Bạch cầu cấp dòng tủy dòng lympho (ALL):
Bạch cầu cấp dòng lympho xuất hiện do tổn thương ung thư hóa dòng tế bào lympho. Bảng xếp loại FAB chia bạch cầu cấp dòng lympho thành 3 thể khác nhau: L1, L2, L3.
Triệu chứng?
Trong bệnh bạch cầu cấp, nhiều triệu chứng xuất hiện không những do sản xuất không đủ các loại tế bào máu bình thường trong tủy, mà còn do các tế bào ung thư lan tràn khắp cơ thể. Triệu chứng do giảm các tế bào máu bình thường:
Dễ bị nhiễm khuẩn là triệu chứng kết hợp với hiện tượng giảm số lượng bạch cầu ở máu ngoại vi. Chức năng của bạch cầu là bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh từ bên ngoài ví dụ tác nhân vi khuẩn, vì vậy lượng bạch cầu bị giảm sút dẫn đến không đủ khả năng chống đỡ, hậu quả là bệnh nhân ung thư máu dễ bị nhiễm khuẩn.
Triệu chứng thiếu máu xuất hiện liên quan đến việc giảm số lượng hồng cầu. Do chức năng của hồng cầu là vận chuyển oxy tới toàn bộ cơ thể nên mọi sự thiếu hụt hồng cầu đều gây ra hậu quả thiếu oxy ở các cơ quan đích trong cơ thể, gây ra các triệu chứng như thở nhanh hoặc thở ngắn khi vận động, hoa mắt, mệt mỏi và/ hoặc nhợt nhạt.
Nguy cơ chảy máu: đây là triệu chứng liên quan đến tình trạng giảm số lượng tiểu cầu. Vì chức năng của tiểu cầu là cầm máu, nên mọi tình trạng thiếu hụt tiểu cầu đều làm tăng nguy cơ chảy máu ngay cả với chấn thương nhẹ, và kết quả xuất huyết những chấm xuất huyết nhỏ, mảng bầm dưới da, chảy máu từ lợi hoặc từ mũi. Chảy máu nội tạng có thể gặp trong một số trường hợp nặng.
Xét nghiệm và chẩn đoán?
Xét nghiệm tế bào máu-xét nghiệm máu:
Trong bệnh bạch cầu cấp, các tế bào bất thường có thể quan sát được. Số lượng bạch cầu có thể tăng hoặc giảm, giảm số lượng tiểu cầu. Trong một số trường hợp, có thể quan sát được tế bào ung thư ở máu ngoại vi.
Xét nghiệm tủy- chọc hút tủy xương:
Chọc hút tủy xương là việc lấy một số lượng nhỏ mô tủy dưới dạng dịch lỏng để xác định sự có mặt của các tế bào ung thư, là yếu tố quyết định để chẩn đoán bạch cầu cấp.
Phân tích huyết thanh và nước tiểu- xét nghiệm hóa sinh:
Xét nghiệm này sẽ phân tích các thành phần máu và nước tiểu.Nồng độ acid uric trong huyết tương và trong nước tiểu, nồng độ LDH sẽ tăng trong bệnh bạch cầu cấp.
Quan sát hình thái tế bào- quy trình nhuộm đặc biệt:
Chuẩn bị tiêu bản máu để quan sát hình thái các tế bào máu.
Dung dịch Giemsa thường được dùng để nhuộm tiêu bản.
Nhuộm đặc biệt như Peroxydase, Esterase không đặc hiệu, và PAS thường được sử dụng để xếp thể bệnh bạch cầu cấp.
Xét nghiệm phân loại tế bào- kháng nguyên bề mặt tế bào:
Các kháng nguyên trên bề mặt màng tế bào thể hiện đặc trưng cho từng dòng tế bào.
Xét nghiệm tìm bất thường gen- tìm bất thường nhiễm sắc thể:
Các bất thường gen và nhiễm sắc thể có thể được tìm thấy ở những tế bào bạch cầu ác tính.
Các phương pháp điều trị?
Điều trị tấn công lui bệnh: để đẩy lùi tế bào ác tính đồng thời cho phép tế bào bình thường hồi phục.
Điều trị sau lui bệnh: mục đích làm giảm tối thiểu số lượng tế bào ác tính, đồng thời tế bào máu trở lại mức bình thường. gọi là lui bệnh hoàn toàn. Nếu ngừng điều trị ở giai đoạn này, hầu hết bệnh nhân sẽ bị tái phát.
Ghép tế bào gốc tạo máu: là phương pháp được tiến hành để làm giảm nguy cơ tái phát và đạt gần đến tình trạng chữa khỏi bệnh cho bệnh nhân. Ghép tế bào gốc tạo máu sử dụng hóa trị liệu/xạ trị toàn thân với liều cao để phá hủy tối đa số lượng tế bào bạch cầu ác tính trong cơ thể. Vì phương pháp điều trị này cũng làm tổn thương cả các tế bào gốc tạo máu bình thường trong cơ thể nên các tế bào gốc mới cần được ghép vào sau khi điều trị.
Chỉ định ghép phụ thuộc vào độ tuổi của bệnh nhân, tình trạng toàn thân và chức năng của các cơ quan trong cơ thể.
Chăm sóc sau khi xuất viện?
Điều trị và theo dõi:
Sau quá trình điều trị nội trú, bệnh nhân đã hoàn tất thành công quá trình điều trị và nên được tiếp tục điều trị định kì và theo dõi. Và tình trạng khi ra viện không có nghĩa là bệnh được chữa khỏi, do vậy điều quan trọng là tiếp tục theo dõi điều trị cùng với tư vấn sát sao của bác sĩ điều trị. Bệnh nhân phải được sử dụng thuốc theo chỉ định với liều lượng chính xác, định kì và khám kiểm tra theo hẹn để đảm bảo rằng họ nhận thức chính xác về tình trạng bệnh tật và sức khỏe của mình.
Tự giám sát:
Vì bệnh nhân thường giảm sút sức khỏe sau quá trình điều trị và sau thời gian nằm viện dài ngày, họ thường cần thích nghi dần với cuộc sống hàng ngày đặc biệt với công việc nên không đặt họ vào bất kì sức ép thái quá nào. Một khuyến cáo chung là bệnh nhân nên được phục hồi chức năng về xã hội một cách từ từ đồng thời với mức độ tình trạng sức khỏe của cơ thể theo lời khuyên của bác sĩ. Ngoài ra bệnh nhân phải thường xuyên theo dõi nhiệt độ cơ thể, trọng lượng, chế độ vận động thể lực.
Chế độ ăn:
Bệnh nhân nên cố gắng duy trì chế độ ăn cân bằng đủ dinh dưỡng và luôn có ý thức cố gắng sử dụng thực phẩm giàu năng lượng và protein.
Một số liệu trình điều trị có thể phải hạn chế sử dụng muối hoặc một số loại thực phẩm khi số lượng bạch cầu giảm thấp, lời khuyên chung là nên tránh tối đa mọi loại thức ăn sống.
Kiểm soát nhiễm khuẩn:
Tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân sau điều trị, đặc biệt khi số lượng bạch cầu giảm thấp do hóa trị hoặc sau khi ghép tế bào gốc tạo máu, bệnh nhân có thể rất dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm nấm, vi rút và các tác nhân khác. Lời khuyên là cần nên tránh chỗ đông người, duy trì thói quen sử dụng khẩu trang, và rửa tay để phòng nhiễm khuẩn.
Mùa hè là khoảng thời gian lý tưởng để các gia đình cùng nhau tổ chức những chuyến đi chơi, gắn kết tình cảm và giải tỏa căng thẳng sau những ngày làm việc, học tập vất vả. Tuy nhiên, thời tiết nắng nóng gay gắt cùng sự thay đổi về môi trường sinh hoạt lại dễ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, đặc biệt là với trẻ em, phụ nữ mang thai và người lớn tuổi. Để chuyến đi trọn vẹn và hạn chế tối đa rủi ro, Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin hữu ích giúp bạn chủ động chuẩn bị một hành trình du lịch hè an toàn cho cả nhà.
Thực tế hiện nay có nhiều phụ huynh lo ngại ăn mỡ lợn sẽ gây béo phì hoặc các bệnh tim mạch cho trẻ. Tuy nhiên mỡ lợn không hề xấu mà còn cần cho sự phát triển của trẻ nếu được sử dụng đúng cách.
Huyết áp cao (tăng huyết áp) ảnh hưởng đến hàng triệu người trưởng thành ở Hoa Kỳ và làm tăng nguy cơ đau tim, đột quỵ và các bệnh lý khác.
Chất xơ cần thiết cho sức khỏe tiêu hóa và phòng ngừa bệnh tật. Theo một nghiên cứu mới cho thấy việc phân bổ thời điểm nạp chất xơ trong ngày có thể tối ưu hóa lợi ích mà nó mang lại cho cơ thể.
Việc đi du lịch khi bạn đang mắc tiểu đường có thể đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng hơn, nhưng điều đó không nên ngăn cản việc bạn tận hưởng các chuyến đi. Hãy làm theo những hướng dẫn sau đây và cùng tạo nên những kỷ niệm đẹp với mỗi chuyến đi!
Khi ăn dứa, đa số mọi người thường có thói quen gọt bỏ phần lõi vì nó cứng, ít ngọt và đôi khi gây cảm giác rát lưỡi. Thực ra là chúng ta đang vô tình lãng phí phần rất giá trị của quả dứa.
Lối sống và thói quen hằng ngày là nhân tố then chốt quyết định tuổi thọ của con người. Từ việc ưu tiên thực phẩm thực vật, duy trì vận động đến việc chăm sóc sức khỏe tinh thần và giấc ngủ, những thay đổi nhỏ ngay từ hôm nay chính là chìa khóa vàng giúp bạn mở ra một tương lai khỏe mạnh và trường thọ.
Khoai lang là thực phẩm phổ biến trong nhiều thực đơn ăn kiêng giảm cân. Tuy nhiên, không phải cứ ăn thay cơm là sẽ gầy. Việc ăn sai liều lượng hoặc sai thời điểm có thể khiến nỗ lực giảm cân thất bại.