Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Thuyên tắc phổi

Máu lưu thông qua phổi từ tim phải để lấy oxy và loại bỏ khí carbon dioxide (gọi là trao đổi khí). Máu sau đó lưu thông từ phổi trở về tim trái để được bơm ra phần còn lại của cơ thể.

Tắc mạch phổi (pulmonary embolism - PE) là một cục máu đông lọt vào mạch máu trong phổi và ngăn chặn dòng lưu thông bình thường của máu trong vùng đó. Sự tắc nghẽn này gây trở ngại cho việc trao đổi khí. Tùy thuộc vào cục máu đông nhỏ hay to và số lượng các mạch máu có liên quan, nó có thể đe dọa tính mạng.

Đa số các cục máu đông nằm lại trong phổi được hình thành đầu tiên ở chân như là một huyết khối tĩnh mạch sâu (deep vein thrombosis – DVT). Bài này bàn luận về chẩn đoán tắc mạch phổi.

Tắc mạch phổi cấp tính là gì?

Tắc mạch phổi dùng để chỉ huyết khối (embolus) đã bị vỡ và trôi nổi tự do trong mạch máu. Nó có thể di chuyển đến một vùng khác của cơ thể và gây tắc nghẽn mạch máu. Đôi khi có nhiều huyết khối (emboli). Các huyết khối không di chuyển và nằm trong tĩnh mạch được gọi là huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT). Hầu hết các huyết khối trở thành tắc mạch phổi được hình thành trong tĩnh mạch ở chân. Tất cả tĩnh mạch trong cơ thể dẫn máu vào tĩnh mạch lớn hơn, rồi dẫn máu đến tim phải và tiếp tục vào động mạch phổi. Huyết khối này di chuyển từ các tĩnh mạch sang tim phải. Từ tim phải nó đi vào động mạch phổi chính và có thể bị mắc kẹt ở đó hoặc tiếp tục di chuyển vào một trong hai phổi. Nếu có vài huyết khối, chúng có thể đi vào các vùng khác nhau của một hoặc cả hai phổi. Khi huyết khối nằm trong động mạch phổi, nó sẽ chặn lưu lượng máu vốn đến phổi để nhận lấy oxy. Nếu không có đủ máu để nhận được oxy và di chuyển sang tim trái, nồng độ oxy trong cơ thể giảm xuống một cách nguy hiểm, có thể gây ra stress và tổn thương cho tất cả các cơ quan trong cơ thể, kể cả não, thận và tim. Mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào lưu lượng máu không đến được phổi là bao nhiêu.

Ngoài ra, do tắc nghẽn tại phổi, áp suất dội ngược lên tim phải. Tim phải có thể bị phình to và co bóp nặng nề hơn. Điều này cũng có thể ảnh hưởng đến tim trái, do bị tim phải phình to chèn ép. Nếu tim trái không thể bơm đủ máu, huyết áp cũng giảm xuống.

Tất cả những tác động này có thể dẫn đến tử vong, hoặc đột ngột, hoặc sau khi tắc mạch phổi đã xảy ra một thời gian ngắn mà không được chữa trị.

Huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) là gì và nó liên quan như thế nào đến tắc mạch phổi?

Huyết khối tĩnh mạch sâu là một cục máu đông hình thành và phát triển trong các tĩnh mạch lớn ở chân hoặc đôi khi ở cánh tay.

Các dấu hiệu và triệu chứng của huyết khối tĩnh mạch sâu ở chân (hoặc cánh tay) bị tổn thương gồm có:

+ Sưng
+ Đau
+ Đỏ
+ Nóng.

Các khảo sát lưu lượng máu tĩnh mạch (siêu âm Doppler) có thể được thực hiện để phát hiện cục máu đông. Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu sớm có thể giúp làm giảm các triệu chứng và ngăn ngừa tắc mạch phổi.

Yếu tố nguy cơ đối với huyết khối tĩnh mạch sâu và tắc mạch phổi là gì?

Có những người có nguy cơ cao bị cục máu đông do:
+ Tình trạng di truyền như rối loạn đông máu. Trong một số trường hợp, tiền sử gia đình của cục máu đông sẽ là đầu mối để phát hiện một trục trặc di truyền như Factor V Leiden
+ Các bất thường mạch máu như giãn tĩnh mạch
+ Một số bệnh như ung thư hoặc bệnh tim
+ Mang thai hoặc trong vòng 6 tuần sau sinh
+ Hút thuốc
+ Béo phì
+ Đi xe hơi hoặc máy bay đường dài mà không dừng và đi lại xung quanh (> 4-6 giờ cùng một lúc)
+ Nằm tại giường lâu dài sau khi phẫu thuật hoặc chấn thương nặng
+ Viên thuốc tránh thai hoặc thuốc hormon
+ Cao tuổi (70 tuổi trở lên)
+ Người có tiền sử cục máu đông
+ Không dùng thuốc làm loãng máu đã kê toa.

Càng nhiều yếu tố nguy cơ, càng nhiều khả năng có cục máu đông. Điều quan trọng là phải nhận biết người có nguy cơ cao bị huyết khối tĩnh mạch sâu, do có thể có cách để ngăn chặn chúng.

Các triệu chứng của tắc mạch phổi là gì?

+ Khó thở (thường là khởi phát đột ngột)
+ Choáng váng
+ Đau ngực
+ Nhịp tim nhanh
+ Mất ý thức
+ Ho ra máu.

Tắc mạch phổi nghiêm trọng như thế nào?

Tắc mạch phổi có thể được phân nhóm theo vị trí cục máu đông hoặc theo mức độ nặng nhẹ của người bệnh.

Dựa trên vị trí của cục máu đông đi vào động mạch phổi, các thuật ngữ sau đây được sử dụng: (A) tắc mạch phổi yên ngựa (cục máu đông đi vào động mạch phổi chính), (B) tắc mạch phổi thùy (đi vào nhánh lớn của động mạch phổi), hoặc (C) tắc mạch phổi xa (đi vào nhánh nhỏ của động mạch phổi). Vị trí của cục máu đông dần dần di chuyển vào các nhánh nhỏ hơn, chuyển từ loại ‘A’ sang ‘C’.

Các loại dựa theo mức độ nặng nhẹ của người bệnh có thể chia thành tắc mạch phổi nguy cơ thấp, trung bình hoặc cao. Đây là nguy cơ tử vong hoặc biến chứng nghiêm trọng. Mức độ nghiêm trọng cũng được đánh giá một phần dựa trên triệu chứng của người bệnh, chức năng phổi như thế nào và huyết áp thấp đến mức nào.

Để xác định nguy cơ và mức độ nghiêm trọng, nhân viên y tế cần cho các xét nghiệm máu khác nhau và hình ảnh khác nhau (X quang hoặc chụp cắt lớp CT hoặc siêu âm tim). Lựa chọn điều trị cũng dựa một phần vào nguy cơ hoặc mức độ nghiêm trọng.

Các xét nghiệm để phát hiện cục máu đông là gì?

Chụp cắt lớp CT (một phiên bản tiên tiến của X quang) động mạch phổi là xét nghiệm thường được sử dụng nhất để tìm kiếm nguyên nhân của tắc mạch phổi. Trong thử nghiệm này, thuốc nhuộm được tiêm vào tĩnh mạch của bàn tay hoặc cánh tay và chụp cắt lớp CT ngực được thực hiện để tìm cục máu đông trong phổi.

Siêu âm chân cũng có thể được thực hiện để tìm các cục máu đông ở chân. Siêu âm tim thường được thực hiện để đánh giá mức độ nghiêm trọng của tắc mạch phổi đối với chức năng tim và áp suất.

Xét nghiệm máu có thể được thực hiện để tìm bất thường đông máu, tổn thương tim, hoặc thiệt hại tại các cơ quan khác.

Tắc mạch phổi được điều trị như thế nào?

Thường một người bị tắc mạch phổi cấp tính sẽ được nhập viện và có thể phải đến phòng săn sóc đặc biệt (intensive care unit - ICU) để được hỗ trợ và điều trị ban đầu. Có những loại thuốc có thể được sử dụng để giúp phá vỡ cục máu đông (tan huyết khối). Các loại thuốc giúp ngăn ngừa cục máu đông phát triển hoặc mới hình thành cũng được cho (chất làm loãng máu gọi là thuốc chống đông máu như là warfarin hoặc heparin).

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Nhận biết huyết khối tại các vị trí khác nhau trên cơ thể

Trần Thanh Lộc - BS Lê Thị Tuyết Lan - Theo HỘI HÔ HẤP TP. HỒ CHÍ MINH
Bình luận
Tin mới
  • 19/08/2026

    10 thói quen phổ biến vào buổi sáng gây hại cho sức khỏe

    Những thói quen buổi sáng có thể quyết định rất lớn đến sức khỏe và năng suất làm việc của chúng ta trong ngày. Một số thói quen này tưởng chừng vô hại, nhưng nếu không được thay đổi, chúng có thể gây ra những tác động tiêu cực cho sức khỏe về lâu dài. Thay đổi những thói quen buổi sáng phổ biến này có thể giúp bạn giữ được sức khỏe tốt hơn và năng suất cao hơn trong suốt cả ngày. Cùng tìm hiểu về 10 thói quen phổ biến vào buổi sáng gây hại cho sức khỏe qua bài viết sau đây!

  • 18/08/2026

    Người tập thể dục thể thao cần lưu ý gì khi vận động mùa nắng nóng?

    Mùa hè mang đến cơ hội tuyệt vời để chúng ta khởi động những thói quen tích cực, giải phóng năng lượng và nâng cao thể chất. Tuy nhiên, việc vận động dưới nền nhiệt độ cao lại là một thử thách không nhỏ đối với hệ thống điều hòa thân nhiệt tự nhiên của cơ thể. Nếu không biết cách phòng ngừa và chuẩn bị chu đáo, người tập rất dễ đối mặt với các nguy cơ mất nước, kiệt sức hay thậm chí là sốc nhiệt nguy hiểm. Nhằm giúp bạn làm chủ lộ trình rèn luyện một cách an toàn và bền bỉ trong những ngày oi bức, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chi tiết giúp bạn có một chế độ tập luyện hiệu quả

  • 17/08/2026

    Ăn sữa chua có ngăn ngừa ung thư đại trực tràng?

    Sữa chua từ lâu được biết đến là thực phẩm có lợi cho hệ tiêu hóa nhờ chứa các lợi khuẩn probiotic. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học gần đây còn cho thấy việc tiêu thụ sữa chua thường xuyên có thể liên quan đến việc giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng – một trong những loại ung thư phổ biến và gây tử vong hàng đầu trên thế giới.

  • 16/08/2026

    Hướng dẫn sơ cứu đúng cách khi gặp người bị sốc nhiệt mùa hè

    Mùa hè với những đợt nắng nóng gay gắt luôn mang theo nhiều nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe, trong đó sốc nhiệt (say nắng) là tình trạng cấp cứu nguy hiểm nhất. Nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời, người bệnh có thể phải đối mặt với những biến chứng nặng nề. Để giúp bạn chủ động bảo vệ bản thân và những người thân yêu, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin được chia sẻ những thông tin hữu ích và các bước xử trí đúng cách ngay sau đây.

  • 15/08/2026

    68% lao động ngoài trời đau mỏi, một phần ba bị lo âu

    68% lao động tự do làm việc ngoài trời có ít nhất một triệu chứng cơ - xương - khớp sau mỗi ngày làm việc, 33% biểu hiện lo âu từ nhẹ đến rất nặng, theo nghiên cứu công bố hôm 14/8.

  • 15/08/2026

    33 triệu lao động phi chính thức trước sức ép của biến đổi khí hậu

    Có tới 95,4% lao động tự do ngoài trời được khảo sát phải làm việc dưới nắng nóng, nhưng chỉ 19,1% có thể ngừng việc khi nhiệt độ gay gắt. Biến đổi khí hậu đang tạo sức ép kép lên sức khỏe và sinh kế của một lực lượng lao động lớn, trong khi cơ chế bảo vệ vẫn còn những khoảng trống.

  • 15/08/2026

    5 sai lầm hủy hoại làn da khi đi biển và cách khắc phục

    Mùa hè đến mang theo tiếng gọi của biển xanh và những chuyến đi nghỉ dưỡng tuyệt vời. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm làn da phải đối mặt với thử thách từ ánh nắng mặt trời gay gắt, gió biển và nước muối mặn, dẫn đến tình trạng đen sạm, bỏng rát hay kích ứng da. Nhằm giúp bạn bảo vệ làn da trọn vẹn trong kỳ nghỉ, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về 5 sai lầm phổ biến nhất hủy hoại làn da khi đi biển và cách khắc phục ngay dưới đây.

  • 14/08/2026

    Vì sao người trên 50 tuổi ăn càng ít vẫn khó giảm cân?

    Không ít người trên 50 tuổi than phiền rằng ăn ít hơn nhưng không giảm cân, thậm chí vòng bụng còn tăng. Nguyên nhân không đơn thuần nằm ở lượng thức ăn, mà còn liên quan đến những thay đổi tự nhiên của quá trình lão hóa và mức độ hoạt động thể lực.

Xem thêm