Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Thuốc điều trị và dự phòng viêm não Nhật Bản

Mặc dù xuất hiện quanh năm nhưng đỉnh cao của bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) là vào các tháng mùa hè, tập trung ở tháng 6-8.

Thuốc điều trị và dự phòng viêm não Nhật Bản

Mặc dù xuất hiện quanh năm nhưng đỉnh cao của bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) là vào các tháng mùa hè, tập trung ở tháng 6-8. Thực tế cho thấy, từ đầu tháng 6 đến nay đã có một số trẻ phải nhập viện để điều trị do mắc bệnh lý này. Do bệnh diễn biến nhanh, để lại hậu quả nặng nề lại dễ nhầm với biểu hiện của viêm đường hô hấp hay một số bệnh gây sốt khác nên việc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng giúp hạn chế biến chứng.

Viêm não Nhật Bản thường gặp ở trẻ em và biến chứng nặng nề

Virut gây bệnh VNNB thường sống ký sinh trong các vật chủ trung gian như gia súc và các loại chim. Virut này lây lan qua người do bị những giống muỗi mang mầm bệnh thuộc họ Culex (C.tritaeniorhynchus, C.bitaeniorhynchus là chủ yếu) và muỗi thuộc họ Aedes (A.togoi, A.japonicus) đốt. Ở Việt Nam, mùa hè là thời điểm số ca mắc VNNB tăng cao nhất, bệnh nhân thường là trẻ em dưới 10 tuổi sức đề kháng của cơ thể còn yếu.

Những biến chứng sớm có thể xuất hiện ở bệnh nhân trong thời kỳ lui bệnh như: viêm phế quản, viêm phổi do bội nhiễm hoặc phải thở ôxy, hút đờm dãi không đảm bảo vô trùng; viêm bể thận, bàng quang do thông tiểu hoặc đặt sonde dẫn lưu; loét và viêm tắc tĩnh mạch do nằm lâu; rối loạn dinh dưỡng; bại hoặc liệt nửa người; rối loạn phối hợp vận động; giảm trí nhớ nghiêm trọng và rối loạn tâm thần... Những biến chứng muộn hơn có thể xuất hiện sau vài năm, thậm chí hàng chục năm, thường gặp là động kinh và Parkinson.

Thuốc điều trị bệnh

Giống như hầu hết các bệnh lý do virut gây ra khác, bệnh VNNB chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Vì vậy, mục tiêu điều trị chính là kiểm soát triệu chứng, nâng cao thể trạng cho bệnh nhân, đồng thời ngăn ngừa các biến chứng có thể xảy ra.

Viêm não Nhật Bản là bệnh nhiễm virus cấp tính ở thần kinh trung ương, cần điều trị sớm.

Trong giai đoạn cấp tính của bệnh, tùy thuộc tình trạng mà bệnh nhân được dùng một số loại thuốc sau:

Thuốc hạ sốt: Để giảm thân nhiệt của cơ thể, loại thuốc thường được dùng cho trẻ em có thành phần paracetamol hoặc ibuprofen. Khi dùng thuốc này cần chú ý đến thời gian được khuyến cáo về khoảng cách giữa hai lần sử dụng để tránh hiện tượng quá liều thuốc. Nếu chưa đến thời gian của lần uống thuốc sau mà trẻ vẫn sốt cao thì cần áp dụng biện pháp lau người bằng nước ấm, cởi bỏ bớt quần áo...

Thuốc chống phù não: Phù não làm áp lực nội sọ tăng và áp lực tưới máu giảm tới một mức mà không còn tuần hoàn não, không còn tưới máu não gây chết não. Để hạn chế tình trạng này, người bệnh được sử dụng dịch truyền ưu trương như dung dịch glucose các nồng độ 10, 20, 30% tùy thuộc từng trường hợp hoặc thuốc lợi tiểu mannitol bằng đường truyền tĩnh mạch. Trường hợp phù não nặng, có co giật thì dùng dexamethason tiêm tĩnh mạch.

Thuốc an thần: Nếu người bệnh có biểu hiện kích thích, vật vã có thể sử dụng thuốc diazepam có tác dụng an thần, giải lo âu. Đây là thuốc thuộc nhóm benzodiazepine, tác động lên não bộ và dây thần kinh (hệ thống thần kinh trung ương) thông qua hệ dẫn truyền GABA (Gamma Amino Butyric Acid), một loại hóa chất tự nhiên nhất định trong cơ thể.

Thuốc chống co giật: Phenobarbital có thể sẽ được dùng sớm để dự phòng cơn co giật cho bệnh nhân.

Thuốc điều chỉnh rối loạn điện giải: Dựa vào điện giải đồ của từng trường hợp cụ thể để bù đủ nước và điện giải. Có thể sử dụng dung dịch natri clorid và glucose đẳng trương. Lượng dịch truyền được tính theo trọng lượng cơ thể.

Thuốc chống sốc: Khi gặp tình trạng sốc, cần truyền dịch theo phác đồ chống sốc, có thể tiêm adrenalin, ephedrin hoặc truyền tĩnh mạch dopamin, dobutamin nếu kèm viêm cơ tim.

Kháng sinh: Kháng sinh được lựa chọn để dự phòng bội nhiễm thường được chỉ định là kháng sinh phổ rộng tùy thuộc vào tình trạng hiện tại của bệnh nhân và loại vi khuẩn nguy cơ xâm lấn gây bệnh. Có thể sử dụng nhóm kháng sinh thế hệ sau của beta-lactam, hay một số macrolid và fluoroquinolon...

Ngoài ra, một số biện pháp hỗ trợ chức năng hô hấp, tim mạch được sử dụng kết hợp như thở ôxy, hút đờm dãi khi tăng tiết dịch khí quản, rối loạn nhịp thở nặng hoặc ngưng thở.

Thuốc để phòng bệnh

Nhằm giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh và hạn chế tối đa các biến chứng có thể xảy ra, cách tốt nhất là tiêm vắc-xin phòng bệnh cho trẻ từ 1-5 tuổi. Vắc-xin phòng viêm não Nhật Bản được tiêm 2 mũi đầu cách nhau 7-14 ngày, sau đó 1 năm tiêm nhắc lại mũi thứ 3 và cứ mỗi 3-4 năm tiêm nhắc lại một lần.

Bên cạnh đó, cần giữ gìn vệ sinh nhà cửa, môi trường sống, chuồng gia súc sạch sẽ để hạn chế muỗi sinh sôi. Đồng thời, nên dời chuồng gia súc ra xa nhà và loại bỏ các ổ bọ gậy để diệt trừ các vector trung gian truyền bệnh. Đi ngủ cần mắc màn, thường xuyên sử dụng các biện pháp diệt muỗi, đuổi muỗi và không cho trẻ em chơi gần chuồng gia súc đề phòng muỗi đốt. Cuối cùng, nếu có dấu hiệu sốt cao cùng với các triệu chứng tổn thương hệ thần kinh trung ương cần phải đưa bệnh nhân đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

ThS. Mai Ngọc Tú - Theo Sức khỏe & Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 17/10/2026

    Những lợi ích tuyệt vời của việc duy trì quan hệ tình dục đều đặn

    Tình dục không đơn thuần là hành vi mang tính bản năng hay phục vụ mục đích duy trì nòi giống, mà còn đóng vai trò cốt lõi trong việc chăm sóc sức khỏe toàn diện cho con người. Việc duy trì hoạt động tình dục đều đặn, lành mạnh mang lại hàng loạt tác động tích cực về cả thể chất lẫn tinh thần. Nhằm giúp bạn đọc có cái nhìn khoa học và đúng đắn hơn về chủ đề này, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin và phân tích chi tiết trong bài viết dưới đây.

  • 17/10/2026

    Nhận diện các loại côn trùng thường gặp và cách xử trí

    Ve, muỗi, kiến lửa, bọ chét hay nhện độc... là những "vị khách không mời" quen thuộc trong sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt vào mùa mưa ẩm.

  • 16/10/2026

    Xét nghiệm máu: Phương pháp mới giúp đánh giá sớm nguy cơ ung thư

    Một nghiên cứu công bố trên tạp chí PLOS Medicine cho thấy việc theo dõi sự thay đổi của các chỉ số xét nghiệm máu theo thời gian có thể giúp nhận diện nguy cơ ung thư sớm hơn so với việc chỉ đánh giá kết quả của một lần xét nghiệm.

  • 16/10/2026

    7 yếu tố nguy cơ đột quỵ và cách phòng ngừa hiệu quả

    Đột quỵ là biến cố cấp tính nguy hiểm xảy ra khi dòng máu nuôi não bị tắc nghẽn hoặc bị gián đoạn, khiến tế bào não bị hoại tử nhanh chóng. Nếu không được cấp cứu trong "thời gian vàng", bệnh có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề như liệt, rối loạn ngôn ngữ. Hiện nay, căn bệnh này đang có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt là ở nam giới. Nhằm giúp cộng đồng chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cốt lõi giúp nhận diện nguyên nhân và phòng ngừa đột quỵ hiệu quả.

  • 15/10/2026

    Ngũ cốc nguyên hạt và sức khỏe tim mạch: Nên ăn bao nhiêu mỗi ngày?

    Ngũ cốc nguyên hạt từ lâu đã được khuyến cáo trong chế độ ăn có lợi cho tim mạch.

  • 15/10/2026

    6 loại thực phẩm chức năng phổ biến gây hại cho gan

    Các thực phẩm chức năng từ nghệ, đặc biệt là những loại có thêm tiêu đen, có thể gây hại cho gan, với số ca tổn thương gan do nghệ gây ra ngày càng tăng trong những năm gần đây.

  • 14/10/2026

    5 loại thực phẩm bổ sung có thể cải thiện hiệu suất tập luyện

    Một số thực phẩm chức năng có thể cải thiện sức bền hoặc hiệu suất thể thao. Tuy nhiên, một số loại thực phẩm chức năng có thể hứa hẹn kết quả quá mức hoặc đi kèm với rủi ro.

  • 14/10/2026

    U dây thần kinh thính giác

    U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!

Xem thêm