Theo Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA), không có thuốc nào được xem là an toàn hoàn toàn với thai phụ. Các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về sự an toàn của thuốc trong khi đang mang thai còn rất hạn chế vì không thể thử nghiệm trên phụ nữ mang thai.
Do đó FDA đã đưa ra nhóm nguy cơ với những thuốc dựa trên sự sử dụng trong khi mang thai:
Kháng histamine
Thuốc kháng histamine cũng như chlorpheniramine được xem là tác nhân điều trị viêm mũi dị ứng khi mang thai, và cả 2 đều thuộc nhóm thuốc B.
Thuốc kháng histamine thế hệ mới như thuốc không kê theo đơn loratadine (Claritin, dạng chung) và cetirizine (Zyrtec, dạng chung) cũng thuộc nhóm B. Một loại thuốc kháng histamine kê theo đơn mới hơn cũng thuộc nhóm B là Xyzal (levocertirizine)
Thuốc thông mũi
Pseudoephedrine là thuốc chống nghẹt mũi dùng đường uống để điều trị dị ứng khi mang thai, mặc dù nên tránh trong 3 tháng đầu, do gây dị tật ở trẻ. Loại thuốc này xếp vào nhóm C.
Thuốc xịt mũi
Cromolyn xịt mũi giúp điều trị viêm mũi dị ứng nếu được sử dụng trước khi tiếp xúc với tác nhân gây dị ứng và trước khi có triệu chứng. Thuốc này thuộc nhóm B và bán không theo đơn. Nếu thuốc này không có tác dụng, một dạng steroid đường mũi là budesonide (Rhinocort Aqua) thuộc nhóm B (tất cả những loại khác thuộc nhóm C), và do đó là sự lựa chọn trong thời kì mang thai.
Liệu pháp miễn dịch
Thuốc tiêm chữa dị ứng có thể tiếp tục sử dụng khi mang thai, nhưng nó không được khuyến cáo bắt đầu sử dụng điều trị này trong khi mang thai. Liều điển hình của thuốc tiêm chữa dị ứng không tăng, và nhiều bác sĩ dị ứng sẽ giảm liều xuống 50% trong thời ki mang thai. Một số bác sĩ cảm thấy nên dừng dùng thuốc chữa dị ứng trong khi mang thai, hậu quả là làm tăng nguy cơ quá mẫn và gây nguy hiểm đến thai nhi. Ngoài quá mẫn, chưa có dữ liệu nào cho thấy thuốc tiêm dị ứng có thể gây hại đến em bé.
Tham khảo thêm thông tin về Sử dụng các thuốc điều trị dị ứng khi mang thai tại đây
Tỏi và mật ong là hai thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của người Việt. Ngoài giá trị dinh dưỡng, chúng còn được nghiên cứu về một số tác dụng sinh học có lợi cho sức khỏe khi sử dụng hợp lý.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Thời gian gần đây, trào lưu “ăn chống viêm”, “thải độc” hay “tăng miễn dịch cấp tốc” với những lời khuyên “bỏ sữa ngay để trị mụn”, “gluten (ngũ cốc) là thủ phạm gây viêm não” trở nên phổ biến trên mạng xã hội.
Việc có những ngày sinh hoạt đều đặn có thể giúp bạn cảm thấy ổn định hơn khi cuộc sống trở nên căng thẳng. Nhưng một số thói quen nhỏ, thường bị bỏ qua, lại có thể gây hại cho sức khỏe của bạn, dẫn đến căng thẳng về thể chất hoặc tinh thần theo thời gian.
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.