![]()
Hầu hết các loại nước tăng lực đều chứa một lượng lớn chất caffeine, có thể kích thích hệ thần kinh trung ương.
Nước tăng lực là một trong những đồ uống phổ biến nhất ở Mỹ - chỉ đứng sau vitamin tổng hợp cho một số nhóm tuổi. Trên thực tế, hơn 30% thanh thiếu niên từ 12 - 17 tuổi sử dụng nước tăng lực một cách thường xuyên.
Các chuyên gia cảnh báo rằng những đồ uống chứa nhiều caffeine thường có đường có thể làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, tăng cân, đau đầu, lo lắng, các vấn đề về răng miệng, mất nước và bệnh tim.
Bất chấp những rủi ro, số lượng tiêu thụ nước tăng lực vẫn tiếp tục tăng. Dự báo doanh số toàn cầu của loại đồ uống này có thể lên tới 53 tỷ USD vào cuối năm nay, với mức tăng 7,1% dự kiến vào năm 2027.
Uống bao nhiêu caffeine là an toàn?
Theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), 400 miligam (mg) caffeine mỗi ngày là an toàn cho hầu hết người lớn. 400mg caffeine tương đương với 4 tách cà phê hoặc khoảng 12 lon Coca-Cola loại 350ml. Đối với trẻ em, Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) khuyến nghị rằng trẻ em từ 12 đến 18 tuổi chỉ nên tiêu thụ dưới 100mg caffeine mỗi ngày, tương đương với một tách cà phê. Tuy nhiên, APP cũng khuyến cáo rằng, có nhiều loại nước tăng lực có nhiều hơn 100mg caffeine, do đó, nên đọc kỹ nhãn sản phẩm trước khi sử dụng.
![]()
Lượng caffeine một người trưởng thành nên dùng một ngày là 400mg, tương đương với 4 ly cà phê.
Nhiều loại nước tăng lực chứa hơn 100mg caffeine, đó là một lý do tại sao Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) khuyên không nên dùng chúng cho bất kỳ trẻ em hoặc thanh thiếu niên nào.
Các thành phần khác cũng có vấn đề
Trong khi hàm lượng caffeine cao là lý do chính khiến các chuyên gia thận trọng đối với việc uống nước tăng lực. Bác sỹ Nhi khoa Priscilla Mpasi đồng thời là Chủ tịch khu vực II của Hiệp hội Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ cho biết, cô cũng lo ngại về các chất phụ gia có thể có trong nước tăng lực như guarana, taurine, L-carnitine. Hiện nay, các chuyên gia vẫn chưa có đủ thông tin về những chất phụ gia này nên chưa thể đưa ra khuyến nghị về mức tiêu thụ an toàn cho riêng từng chất.
Nước tăng lực có thể góp phần gây ra bệnh tim
Theo bác sỹ tim mạch Martha Gulati thuộc Viện Tim Cedars-Sinai (Mỹ), một trong những mối quan tâm khi sử dụng nước tăng lực là nhịp tim không đều, hay còn được gọi là loạn nhịp tim, có thể xảy ra do “tim quá kích thích”.
Nghiên cứu lâm sàng cho thấy sau khi uống nước tăng lực khoảng một giờ thì nhịp tim của những người khỏe mạnh đã tăng lên đáng kể. Điều này có nghĩa là tâm thất trái phải làm việc nhiều hơn trong suốt một giờ sau đó, làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim. Kết quả nghiên cứu này được trình bày tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội X-quang Bắc Mỹ (RSNA).
Rối loạn nhịp tim có thể ảnh hưởng đến lượng máu bơm khắp cơ thể, khiến bạn cảm thấy ngất xỉu. Theo thời gian, rối loạn nhịp tim không được điều trị có thể dẫn đến các tình trạng nghiêm trọng hơn hoặc tử vong.
Bên cạnh đó, nước tăng lực còn ảnh hưởng tới huyết áp. Một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên từ năm 2019 cho thấy nước tăng lực làm tăng huyết áp ở những người trẻ khỏe mạnh. Và một nghiên cứu khác được công bố trong năm nay đã cho thấy ảnh hưởng của nước tăng lực với bệnh tăng huyết áp ở trẻ em và thanh thiếu niên.
Bác sỹ Gulati nói rằng nước tăng lực có thể làm tăng nguy cơ ở những người đã bị tăng huyết áp vì những đồ uống này có thể làm tăng huyết áp của họ một cách thường xuyên. Tuy nhiên, bà cho biết nhiều người không nhận ra mình bị tăng huyết áp, đặc biệt là người trẻ trẻ.
“Tôi nghĩ rằng mọi người nên cẩn thận với những gì họ sử dụng”, Gulati nói.
Khuyến cáo từ các chuyên gia y tế là, không nên uống quá 400mg caffeine/ngày đối với người sức khỏe tốt, với phụ nữ mang thai là 200mg, trẻ em tối đa 30 - 100mg. Ngoài caffeine và các chất phụ gia kích thích khác, nhiều loại nước tăng lực có chứa lượng đường cao. Các chuyên gia nói rằng hàm lượng đường trong nước tăng lực có thể góp phần làm tăng cân và các vấn đề về răng miệng.
Tham khảo thông tin tại bài viết: Uống nước tăng lực có thể gây hại cho tim.
Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.
Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.
Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.
Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.
Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.
Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.
Bệnh Crohn không chỉ gây ra những triệu chứng khó chịu về thể chất như đau bụng, tiêu chảy, mệt mỏi mà còn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của người bệnh. Xây dựng một thói quen chăm sóc bản thân phù hợp chính là cách để sống chung với bệnh nhẹ nhàng hơn.
HbA1c là chỉ số phản ánh mức đường huyết trung bình trong khoảng 3 tháng gần nhất, được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và theo dõi bệnh đái tháo đường.