Tiến sĩ Võ Văn Chi, tác giả sách Bài thuốc hay từ cây thuốc quý cho biết rau má rất phổ biến ở Việt Nam. Cây có tên khoa học là Centella asiatica (L.) Urb, họ hoa tán Apiaceae. Đây là cây thảo mọc bò, phân nhánh nhiều trên mặt đất. Rễ mọc từ các mấu của thân. Lá có cuống dài, phiến hình thận hoặc gần tròn, mép khía tai bèo. Cụm hoa hình tán đơn mọc ở nách lá gồm từ một đến 5 hoa nhỏ không cuống, màu trắng hoặc phớt đỏ. Quả dẹt, có sống hơi rõ.
Trong Đông y dùng toàn cây để làm thuốc, tên gọi là Tích huyết thảo. Người ta thu hái vào mùa hè thu, loại bỏ tạp chất, rửa sạch, dùng tươi hoặc phơi khô. Khi dùng rửa sạch, cắt ngắn.
Rau má có vị đắng, cay, tính hàn, tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, giải độc tiêu thũng, tán ứ chỉ thống, kháng AIDS. Toàn cây được dùng trị cảm mạo phong nhiệt, viêm phần trên đường hô hấp, viêm gan, lỵ, cảm cúm, ăn phải vật có độc, viêm màng phổi, rắn cắn, gai đâm vào thịt, trúng độc nấm, trúng độc thuốc nông dược, ngộ độc sắn, ngộ độc thức ăn và đòn ngã tổn thương. Liều lượng từ 15 đến 30 g.
Phân tích dược lý cho thấy rau má (tích huyết thảo) chứa beta-sitosterol, daucosterol, axit vanillic, axit asiatic, asiaticoside, centellose, axit madasiatic, axit brahmic, axit isobrahmic, brahmoside, brahminoside, madecassoside, axit madecassic, axit isothankunic, isothankuniside, thankuniside, carotenoids, chlorophyll, vellarine, hydrocotyline. Ngoài ra còn có sáp, tanin, đường các loại, potassium chloride, potassium nitrate, mesoinositol, alcaloid. Lá chứa 3-glucosylquercetin, 3-glucosylkaempferol, 7-glucosylkaempferol...
Nghiên cứu đã chứng minh, chiết xuất tinh dầu toàn thân cây tích tuyết thảo có hoạt tính kháng men chuyển hóa ngược của virus HIV. Triterpenes chứa trong thân loài thực vật này có tác dụng kích thích sự sinh thành của mầm thịt, thúc đẩy quá trình làm lành vết thương. Thuốc sắc tích huyết thảo toàn thân tỷ lệ từ 1:16 đến 1:4 có tác dụng ức chế đối với trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn biến hình, Staphyloccocus aureus.
Tiến sĩ Võ Văn Chi giới thiệu một số bài thuốc hay từ cây rau má như sau:
Viêm amidan
- Rau má tươi giã nát và vắt lấy nước cốt, thêm giấm dùng để ngậm và nuốt từ từ.
- Rau má tươi 50 g, sữa người 10 ml. Lấy rau má tươi rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt, thêm sữa người trộn đều để ngậm và nuốt từ từ.
Tưa lưỡi (đẹn lưỡi, đẹn sữa):
Rau má tươi 30 g, rau má mỡ (mãn thiên tinh) tươi 30 g, chi tử (dành dành) một quả. Tất cả đem sắc lấy nước, bỏ bã, dùng bông sát trùng tẩm thuốc chấm rửa khoang miệng.
Sỏi đường tiết niệu:
Rau má tươi 240 g nấu nước uống như trà hàng ngày.
Đau bụng đi cầu lỏng, lỵ:
- Rau má tươi toàn cây (từ 50 đến 100 g) đem rửa sạch, thêm một ít muối, giã nhỏ, vắt uống.
- Rau má 50 g, rửa sạch, giã nát trộn với nước vo gạo, quết đều, vắt lấy nước cốt trong để uống.
Ngoại thương buốt đau:
Rau má khô nghiền bột dùng uống ngày 3 lần, mỗi lần 1,5 g.
Chấn thương do té ngã:
Rau má tươi 180 g rửa sạch, giã vắt lấy nước cốt, uống với rượu.
Ngộ độc thức ăn:
Rau má 250 g, rễ rau muống 250 g. Tất cả đem giã nát lấy nước cốt và trộn với nước ấm uống.
Ngộ độc nấm độc
Rau má tươi 120 g, đường phèn 5 g. Tất cả đem sắc nước, gạn bỏ bã dùng để uống.
Thổ huyết, đái ra máu:
Rau má 30 g, cỏ nhọ nồi (cả cây) và trắc bá diệp, mỗi thứ 15 g. Tất cả đem sắc uống.
Phụ nữ hành kinh đau bụng, đau lưng:
Cả cây rau má (lấy vào lúc có hoa, quả) rửa sạch phơi khô, tán bột. Mỗi ngày uống một lần 30 g vào buổi sáng.
Ngứa do bệnh ngoài da hoặc gan mật, thận, rối loạn chức năng thần kinh, dị ứng
Rau má, chó đẻ, cỏ sữa nhỏ lá, đậu năng, mỗi thứ một nắm (khoảng 60 g tươi hoặc 30 g khô), một củ khoai lang, 1/4 tán đường cát, 100 gr gan heo tươi. Tất cả rửa sạch cho vào ấm sắc thuốc, đổ 2 bát nước, sắc còn một bát, chia uống 3 lần trong ngày. Không để qua ngày vì dễ thiu. Dùng từ một đến 3 thang là có kết quả.
Viêm gan cấp tính thể hoàng đản
- Rau má tươi từ 120 đến 150 g đem nấu nước uống lúc bụng đói. Có thể dùng liên tục trong 30 ngày.
- Rau má, rau má mỡ, rễ cỏ tranh đều 30 g, dây mơ 15 g, Cỏ gấu 6 g. Tất cả đem nấu nước uống.
- Rau má tươi, chua me đất hoa vàng tươi, cỏ seo gà tươi, mỗi thứ đều 60 g. Dùng nước vo gạo lần hai để nấu uống, cho thêm đường cát trắng để uống.
- Rau má 30 g, nhân trần 15 g, chi tử 6 g. Tất cả đem nấu nước và cho thêm đường cát trắng để uống.
- Rau má, mã đề, nhân trần, mỗi thứ đều 15 g. Tất cả đem nấu nước uống.
Viêm gan cấp và mạn tính
Rau má, ban, cỏ mật gấu, cườm thảo mềm, mỗi thứ đều 15 g. Tất cả đem nấu nước uống.
AIDS, nóng lạnh hầu họng đau, lúc nuốt nước miếng đau, sưng amygdal (một hoặc 2 bên)
Tích tuyết thảo, kê nhãn thảo, địa nhĩ thảo (cỏ ban), mỗi thứ đều 30 g. Cúc hoa vàng, bản lam căn, kim ngân hoa, mỗi thứ đều 15 g. Sơn đậu căn 6 g. Cam thảo 10 g. Tất cả đem sắc uống.
AIDS, nóng lạnh, đau đầu, đau bụng, tiêu chảy như xối nước sau chuyển thành máu mủ và nhầy
Tích tuyết thảo, kê nhãn thảo, mỗi thứ đều 30 g. Bạch đầu ông, trần bì, hoàng bá, mỗi thứ 15 g. Hoàng cầm 10 g. Diếp cá 30 g (cho vào sắc sau). Tất cả đem sắc lấy nước uống.
Tăng cường miễn dịch đúng cách là một lộ trình dài hạn dựa trên việc giảm thiểu stress oxy hóa và duy trì hoạt động ổn định của các tế bào lympho. Các nghiên cứu về dược liệu học gần đây đã chỉ ra rằng, các hợp chất sinh học có trong thảo mộc truyền thống như Kim ngân hoa, Cúc hoa hay Cam thảo không chỉ có khả năng trung hòa gốc tự do mà còn hỗ trợ điều hòa các chất trung gian gây viêm.
Dù cơ thể có thể tự sản sinh vitamin D từ ánh nắng mặt trời nhưng thực phẩm cũng là một nguồn cung cấp vitamin D quan trọng giúp bù đắp sự thiếu hụt vitamin D trong những tháng thiếu nắng mùa đông.
Khi trời trở lạnh, việc đau thần kinh tọa sẽ trở nên vô cùng đau đớn, đôi lúc còn có chuyển biến xấu. Thời tiết lạnh có thể làm các cơ cột sống của bạn co cứng lại, và cơn đau của bạn có thể trầm trọng hơn do áp suất khí quyển và căng thẳng thể chất. May mắn thay, có những bước bạn có thể thực hiện để giúp giảm đau thần kinh tọa.
Bệnh mạn tính không lây (non-communicable diseases - NCDs) là nhóm bệnh bao gồm các bệnh như bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường type 2, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), rối loạn mỡ máu, béo phì, một số loại ung thư, hen… Bệnh mạn tính không lây là nguyên nhân tử vong và tàn phế hàng đầu ở nhiều quốc gia và đặt gánh nặng lớn lên hệ thống y tế và xã hội.
Trái với nỗi sợ tăng cân, khoa học chứng minh việc ăn các loại hạt giúp giảm cân, đánh bay mỡ thừa hiệu quả hơn các chế độ ăn kiêng khắt khe. Bí mật nằm ở cơ chế chuyển hóa đặc biệt, kích hoạt quá trình đốt mỡ tự nhiên mà ít ai biết tới.
Ợ nóng là cảm giác đau rát ở ngực, thỉnh thoảng xuất hiện, hoặc trở nên tồi tệ hơn sau khi ăn, vào ban đêm, khi nằm xuống hoặc cúi người. Đây là một triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
Trái cây vẫn có thể xuất hiện trong thực đơn của người bệnh tiểu đường nếu lựa chọn đúng loại và kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp để hỗ trợ ổn định glucose máu.
Giai đoạn chuyển mùa từ đông sang xuân tại miền Bắc thường xuất hiện hiện tượng nồm ẩm và mưa phùn, khiến độ ẩm tăng cao và tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển mạnh. Kiểu thời tiết này đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em, người cao tuổi và những người có bệnh lý nền, do các bệnh về đường hô hấp dễ dàng bùng phát và trở nặng. Nhằm giúp người dân chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về các biện pháp khoa học và thiết thực nhất ngay dưới đây.