Theo cảnh báo của các bác sĩ, bệnh quai bị là bệnh lành tính, có thể tự khỏi từ 7-10 ngày, tuy nhiên, nếu không có cách phòng tránh và xử lý kịp thời, có thể dẫn tới những biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe.
Tại Bệnh viện E vừa tiếp nhận bệnh nhân T.V.A (28 tuổi, ở Nghĩa Tân, Quận Cầu Giấy) nhập viện trong tình trạng sốt, sưng đau góc hàm 2 bên, tinh hoàn bên trái sưng đau. Các bác sĩ ở khoa Bệnh nhiệt đới, Bệnh viện E tiến hành khám lâm sàng và các xét nghiệm cần thiết, xác định bệnh nhân A bị quai bị có biến chứng viêm tinh hoàn bên trái.
Ths.BS Vũ Mạnh Cường – Phó khoa Bệnh nhiệt đới – Bệnh viện E cho biết, qua siêu âm, các bác sĩ phát hiện dịch trong màng tinh hoàn, tinh hoàn bên trái có kích thước to hơn bình thường. Được biết, 5 ngày trước đó, bệnh nhân có tiếp xúc với một người bạn mắc quai bị. Một ngày sau, bệnh nhân có biểu hiện sốt nhẹ, sưng đau góc hàm bên phải, sau đó bệnh lan xuống tinh hoàn bên trái. Nhưng bệnh nhân tự điều trị tại nhà không khỏi.
Bên cạnh giường bệnh nhân A là bệnh nhân Đ.T.V (63 tuổi, ở Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm) cũng nhập viện do mắc quai bị từ 5 ngày trước đây. Bệnh nhân V nhập viện trong tình trạng sưng đau góc hàm bên phải, sau đó lan sang bên trái.
Bác sĩ tiến hành siêu âm, tuyến nước bọt mang tai 2 bên có kích thước to hơn bình thường. Kết quả xét nghiệm men tụy trong máu (amylase) tăng cao gấp 2,5 lần so với bình thường. Khai thác tiền sử bệnh án cho thấy, bệnh nhân không rõ nguồn lây từ đâu, vì người thân trong gia đình không có ai mắc bệnh. Bệnh nhân chưa tiêm vắc-xin phòng bệnh quai bị.
Tại khoa Truyền nhiễm – Bệnh viện Bạch Mai mới đây cũng đã tiếp nhập nam bệnh nhân (23 tuổi), bị mắc quai bị sau khi tiếp xúc với một người bạn mắc căn bệnh này. Ban đầu bệnh nhân có biểu hiện sưng đau tuyến mang tai hai bên, từ phải sang trái; sốt cao. Vài ngày sau, bệnh nhân thấy sưng đau tinh hoàn bên trái, quá lo lắng nam thanh niên này đã nhập viện điều trị. Hiện bệnh nhân vẫn đang được theo dõi, đặc biệt là khả dẫn đến vô sinh hay không.
Theo BS Cường, bệnh quai bị ở người lớn tuy ít gặp, nhưng thường nặng và có nhiều biến chứng hơn ở trẻ em. Người mắc bệnh quai bị có thể gặp các biến chứng sau: viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn với tỷ lệ 20-35%, ở người sau tuổi dậy thì mắc bệnh quai bị thường xảy ra sau đợt viêm tuyến mang tai khoảng 7-10 ngày nhưng cũng có thể xuất hiện trước hoặc đồng thời.
'Tinh hoàn sưng to, đau, mào tinh căng. Tình trạng viêm và sốt kéo dài 3-7 ngày, sau đó khoảng 50% số trường hợp tinh hoàn teo dần và có thể dẫn đến tình trạng giảm số lượng tinh trùng và vô sinh.'- BS Cường cảnh báo
Riêng đối với phụ nữ, theo BS Cường khi bị quai bị có biến chứng gây viêm buồng trứng, có tỷ lệ 7% ở nữ sau tuổi dậy thì, ít khi dẫn đến vô sinh. Đặc biệt, bệnh quai bị ở phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây sảy thai hoặc sinh con dị dạng, trong 3 tháng cuối của thai kỳ có thể sinh non hoặc thai chết lưu.
Ngoài ra, khi bị quai bị cũng có biến chứng gây nhồi máu phổi. Đây là tình trạng một vùng phổi bị thiếu máu nuôi dưỡng, có thể tiến đến hoại tử mô phổi. Nhồi máu phổi là biến chứng có thể xảy ra sau viêm tinh hoàn do quai bị vì hậu quả của huyết khối từ tĩnh mạch tiền liệt tuyến. Biến chứng gây viêm tụy, có tỷ lệ 3% - 7%, là một biểu hiện nặng của quai bị. Bệnh nhân bị đau bụng nhiều, buồn nôn, có khi tụt huyết áp. Các tổn thương thần kinh: Viêm não có tỷ lệ 0,5%, bệnh nhân có các hiện tượng như: thay đổi tính tình, bứt rứt, khó chịu, nhức đầu, co giật, rối loạn tri giác, rối loạn thị giác, đầu to do não úng thủy.' Tổn thương thần kinh sọ não dẫn đến điếc, giảm thị lực, viêm tủy sống cắt ngang, viêm đa rễ thần kinh.
Theo BS Cường, khi mắc quai bị còn có một số biến chứng nguy hiểm khác như viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến lệ, viêm thần kinh thị giác (gây giảm thị lực tạm thời), viêm thanh khí phế quản, viêm phổi, rối loạn chức năng gan, xuất huyết do giảm tiểu cầu…
Để phòng và điều trị bệnh quai bị hiệu quả, cần cách ly bệnh nhân 2 tuần kể từ lúc phát hiện bệnh, vệ sinh răng miệng, ăn những thực phẩm dễ tiêu hoá, giảm đau tại chỗ bằng cách đắp ấm vùng sưng, giảm đau toàn thân và hạ sốt bằng paracetamol. Đối với trường hợp viêm tinh hoàn, bệnh nhân cần mặc quần lót nâng tinh hoàn để giảm đau, nghỉ ngơi, hạn chế vận động.
Một nghiên cứu trình bày tại hội nghị Tuần lễ Tiêu hóa châu Âu (UEG Week) 2025 cho thấy việc tăng cường hai loại chất xơ lên men là beta-glucan và inulin có thể liên quan đến việc giảm khoảng 30% nguy cơ mắc bệnh Crohn ở nhóm người có nguy cơ cao. Đây được xem là một hướng đi tiềm năng trong phòng ngừa bệnh lý viêm ruột này.
Khi những cơn gió lạnh đầu mùa ùa về và ngày dần ngắn lại, chúng ta không chỉ đón nhận sự thay đổi của thời tiết mà còn phải đối mặt với sự gia tăng đột biến của các ca mắc cảm cúm. Virus cúm, hay còn gọi là influenza, dường như luôn chọn mùa đông làm thời điểm "vàng" để bùng phát, mang theo hàng loạt triệu chứng khó chịu như sốt cao, đau nhức toàn thân và các vấn đề về đường hô hấp. Tại sao loài virus này lại phát triển mạnh mẽ và lây lan nhanh chóng đến vậy khi nhiệt độ xuống thấp? Bài viết này sẽ đi sâu vào những cơ sở khoa học giải thích cho sự bùng phát của bệnh cúm vào mùa đông, từ đó cung cấp các biện pháp phòng ngừa thiết thực để bảo vệ sức khỏe cho bạn và gia đình.
Bơi lội là môn thể thao toàn thân được nhiều người yêu thích nhờ khả năng vừa rèn luyện thể lực vừa giúp thư giãn tinh thần. Với cùng một khoảng thời gian vận động, bơi lội có thể tiêu hao lượng calo tương đương chạy bộ nhưng lại ít gây áp lực lên xương khớp hơn.
Trên thị trường hiện có nhiều loại thực phẩm chức năng được quảng cáo với công dụng hỗ trợ giảm cholesterol máu, thu hút sự quan tâm của người có rối loạn lipid máu.
Chuối giàu kali, việc bổ sung đủ khoáng chất thiết yếu này có thể hỗ trợ sức khỏe tim mạch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nói chung.
Các thuốc nhóm GLP-1 như semaglutide hiện được kê đơn chủ yếu để điều trị đái tháo đường type 2 và béo phì.
Aspirin từng được xem là thần dược trong phòng ngừa bệnh tim mạch, tuy nhiên hiện nay y học đã có những góc nhìn thay đổi về loại thuốc này. Dưới đây là 7 lầm tưởng phổ biến về thuốc Aspirin được các chuyên gia y tế khuyến cáo.
Để cơ thể hấp thụ được hàm lượng vitamin D tối đa từ trứng, cách ăn trứng và phương pháp chế biến rất quan trọng.