Tuy nhiên, thực tế không dễ như vậy bởi các dấu hiệu chuẩn bị chuyển dạ có thể kéo dài trong nhiều ngày.
Hãy nghĩ rằng lúc bạn bắt đầu chuyển dạ cũng là lúc bạn chuẩn bị sinh em bé. Quá trình chuyển dạ bình thường có thể bắt đầu bất cứ lúc nào trong 2 tuần trước hoặc 2 tuần sau ngày dự sinh.
Hầu hết các bà bầu đều cảm giác được các cơn co nhẹ trước khi chuyển dạ thực sự. Chúng được gọi là những cơ co Braxton Hicks hay chuyển dạ 'giả'. Không giống như chuyển dạ thực sự, chuyển dạ 'giả' sẽ không làm cổ tử cung giãn mở.
Trong chuyển dạ 'giả', những cơn co có thể xuất hiện một cách:
- Thất thường: kéo dài hoặc rút ngắn, dữ dội hoặc nhẹ, có thể tới và biến mất bất cứ lúc nào.
- Không đỡ hơn sau đó.
- Không lan đến bụng trên hoặc sau lưng.
- Không có dấu hiệu thay đổi tình trạng khi bạn nghỉ ngơi hoặc đổi tư thế.
Nếu bạn thấy mình có những cơn chuyển dạ 'giả' thì lời khuyên tốt nhất là hãy ngâm mình trong bồn nước ấm hoặc uống nhiều nước để giảm bớt sự khó chịu.
Những cơn chuyển dạ 'giả' thường xuất hiện vào cuối thai kỳ và có thể xảy ra một tháng hoặc một ngày trước khi bạn sinh em bé. Ngoài ra, càng gần ngày dự sinh thì càng khó nhận biết chuyển dạ 'giả' và chuyển dạ thực sự. Tuy nhiên, bác sĩ và nữ hộ sinh sẽ có thể cho biết bạn đã chuyển dạ hay chưa bằng cách kiểm tra cổ tử cung có mở hay không.
1. Sa bụng:
Điều này xảy ra khi đầu em bé 'sa' xuống xương chậu. Bụng của bạn sẽ trông trễ xuống. Điều này sẽ giúp bạn dễ thở hơn vì phổi không còn chịu áp lực từ em bé. Tuy nhiên, áp lực từ em bé lên thận có thể khiến bạn đi tiểu nhiều hơn bình thường.
Với người mới mang thai lần đầu, dấu hiệu sa bụng thường xảy ra vài tuần trước khi sinh. Với người đã từng sinh con, dấu hiệu này sẽ không xảy ra cho đến khi bắt đầu chuyển dạ.
2. Ra máu và tiết dịch âm đạo:
Nếu bạn ra máu hoặc dịch âm đạo màu nâu, điều đó có thể là cổ tử cung của bạn đã bắt đầu giãn ra. Có thể nhìn thấy nút nhầy niêm mạc bít kín cổ tử cung trong 9 tháng. Đây là một dấu hiệu khả quan nhưng chưa cho thấy chuyển dạ ngay.
3. Em bé cử động ít hơn:
Các bà bầu thường nhận thấy em bé của mình ít 'quậy' hơi vào những ngày trước khi chuyển dạ.
Không ai biết chắc lý do tại sao, có thể là do em bé nghỉ ngơi để dành sức cho việc ra đời.
Nếu bạn cảm thấy bé cử động ít hơn, hãy gọi cho bác sĩ hoặc nữ hộ sinh vì đôi khi ít cử động có thể là do em bé gặp vấn đề nào đó khác.
4. Vỡ ối:
Khi túi ối vỡ, bạn sẽ cảm thấy nước ối chảy ra từ âm đạo, đó có thể là một dòng chảy nhỏ hoặc trào ra một cách đột ngột. Đối với hầu hết phụ nữ, những cơn co sẽ đến trong vòng 24 giờ sau khi vỡ ối.
Tuy nhiên, ngay cả các cơn co không xuất hiện, hãy cho bác sĩ biết ngay khi bạn bắt đầu vỡ ối.
5. Tiêu chảy:
Thường một vài ngày trước khi chuyển dạ, cơ thể bạn tiết ra chất prostaglandins. Đây là cách giúp cho tử cung co thắt nhưng lại có thể gây tiêu chảy.
6. Bản năng 'làm tổ':
Không có lý giải khoa học nào cho dấu hiệu này, nhưng rất nhiều phụ nữ đột ngột cảm thấy một sự thôi thúc 'làm tổ' mạnh mẽ ngay trước khi bắt đầu chuyển dạ. Nếu bạn cảm thấy cần phải dọn dẹp nhà cửa vào lúc 3 giờ sáng, bạn có thể đã sẵn sàng chuyển dạ.
Khi chuyển dạ thực sự, những cơn co sẽ:
- Đến đều và gần nhau hơn
- Kéo dài từ 30 - 70 giây và sẽ ngày càng lâu hơn
- Không ngừng cho dù bạn làm gì
- Lan ra sau lưng và phía trên bụng của bạn
- Dữ dội hơn với cường độ cao hơn
- Khiến bạn không đủ sức để nói chuyện với bất cứ ai
Bạn nên vào viện khi:
- Bạn cảm thấy áp lực trên vùng chậu ngày càng dữ dội với cường độ cao hơn.
- Bạn thấy chảy máu và tăng tiết dịch âm đạo.
- Bạn thấy một sự thay đổi lớn trong cử động của em bé.
- Bạn bị vỡ ối.
Đặc biệt khi đã xuất hiện những cơn co như dưới đây thì cần nhanh chóng vào viện:
- Đau đến mức không thể nói chuyện
- Kéo dài hơn 60 giây
- Cách nhau 5 phút trong ít nhất một giờ
Nếu bạn có bất cứ thắc mắc hoặc không chắc chắn là nên làm gì, hãy hỏi ngay bác sĩ.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.
Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.