Phân bậc nguyên nhân gây ra ung thư.
Theo suy luận một cách logic để nhận biết được khả năng kiểm soát ung thư thì chúng ta cần biết được nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây ra ung thư thường gặp và sau đó xem mức độ khó hay dễ để loại bỏ hoặc điều chỉnh chúng theo nhiều phương pháp khác nhau hướng đến mục tiêu giảm khả năng bị ung thư. Tuy nhiên câu chuyện nhiều khi không dễ dàng vì chúng ta chưa có những hiểu biết đầy đủ về nguyên nhân, hoặc chưa hiểu rõ nguyên nhân đó mạnh hay yếu, có dễ dàng thay đổi được không, khả năng để một người bị ung thư do tác nhân đó khó hay dễ…
Hiểu biết về nguyên nhân gây ra ung thư cung cấp cho chúng ta một cách nhìn cơ bản về sự phòng ngừa của ung thư. Nếu là một nguyên nhân đã biết đến sẽ dễ dàng hơn để biết liệu tác nhân đó có thể (ví dụ hút thuốc lá) hay không thể (tia phóng xa ion hóa trong khí quyển) tránh khỏi. Đa phần các nguyên nhân chính, phơi nhiễm ở mức độ 0 ít nhất cũng có khả năng gây ra ung thư theo lý thuyết. Những nguyên nhân đó bao gồm: hút thuốc lá, đồ uống có cồn, khói từ hoạt động nấu ăn trong nhà, các nguyên nhân nhiễm khuẩn có khả năng gây ung thư.
Theo số liệu từ “Gánh nặng bệnh tật yếu tố nguy cơ toàn cầu”
Các nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong do ung thư được phân loại theo loại ung thư ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình:

Nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư của mọi loại ung thư:
Báo cáo Ung thư Thế giới năm 2003 của IARC (Stewart và Kleihues, 2003) nêu rõ: “Có thể lên đến 30% các trường hợp ung thư ở người liên quan đến chế độ ăn uống và dinh dưỡng,” sử dụng một định nghĩa khá rộng về chế độ ăn uống và dinh dưỡng. Chế độ ăn hay dinh dưỡng xếp hàng nguyên nhân thứ 3 trong số các nguyên nhân gây ra ung thư. Những yếu tố nguy cơ hàng đầu về dinh dưỡng là nguyên nhân gây ra ung thư tập trung vào chủ yếu việc ít tiêu thụ rau xanh và hoa quả. Ngoài những ảnh hưởng của việc tiêu thụ trái cây và rau quả và trọng lượng cơ thể, muối và thực phẩm bảo quản bằng muối làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày và ung thư vòm họng (ở các nước LMCs quan trọng hơn ở các nước có thu nhập cao); tiêu thụ nhiều thịt đỏ có thể làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng;
Hiểu đúng về nguy cơ gây ra ung thư của một tác nhân
Theo Hiệp Hội Ung thư Hoa Kỳ và Cơ quan quốc tế về nghiên cứu ung thư, các nguyên nhân gây ra ung thư được phân thành 4 nhóm, riêng nhóm 2 được phân thành 2A và 2B. Theo đó:
- Nhóm 1 là nhóm gây ra ung thư và có bằng chứng chắc chắn. Có thể kể đến như là acetaldehyde (do tiêu thụ nhiều đồ uống có cồn), amiăng, benzene,…
- Nhóm 2A có khả năng gây ra ung thư cho con người, có bằng chứng mạnh nhưng hiện tại chưa được khẳng định chắc chắn. Có thể kể đến như Acrylamide, Diethyl sulfate, Dibenzo[a,l]pyrene
- Nhóm 2B có thể gây ra ung thư, có một vài bằng chứng cho thấy, nhưng vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn;
- Nhóm 3 không thể phân loại được khả năng gây ung thư trên người, hiện tại không có bằng chứng cho thấy là nguyên nhân.
- Nhóm 4 Có thể không gây ra ung thư, có bằng chứng rõ ràng không gây ra ung thư trên người.
Bên cạnh việc phân loại trên, người ta còn phải dựa vào nhiều yếu tố khác để đánh giá một tác nhân có khả năng gây ra ung thư cao ở con người hay không. Có thể kể đến như cách phơi nhiễm với tác nhân (tiếp xúc qua da, qua niêm mạc, qua đường thở hay đường ăn uống). Ví dụ, ethylene oxide có thể là tác nhân tăng thêm nguy cơ gây ung thư, nhưng chủ yếu qua phơi nhiễm hóa chất nghề nghiệp ở đường thở là chính, còn ghi nhận qua đường ăn uống chưa rõ ràng. Nồng độ khi phơi nhiễm và thời gian phơi nhiễm trong bao lâu cũng là một yếu tố quan trọng khác. Ví dụ, một người hút trung bình 20 điếu thuốc lá trong vòng 5 năm sẽ có khả năng bị ung thư phổi thấp hơn người hút trung bình 10 điếu thuốc trong 15 năm.

Phụ gia thực phẩm liệu có thể là nguy cơ gây ra ung thư hay không?
Phụ gia thực phẩm là những chất được thêm vào thực phẩm để thực hiện một loạt các chức năng cụ thể. Chất phụ gia có thể được phân loại là tự nhiên, giống bản chất hoặc nhân tạo.
Phụ gia thực phẩm giúp duy trì thành phần dinh dưỡng và giữ độ an toàn cho thực phẩm, kéo dài thời gian sử dụng và bảo quản của thực phẩm, cải thiện thành phần dinh dưỡng của sản phẩm, hỗ trợ chế biến và sản xuất thực phẩm.
Tất cả các chất phụ gia đều được đánh giá kỹ lưỡng về độ an toàn trước khi được phép sử dụng và sau đó chúng chỉ được phép sử dụng và với hàm lượng nhất định. Mức hàm lượng được cho là giới hạn an toàn này dựa trên lượng tiêu thụ hàng ngày chấp nhận được (ADI) do Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) tính toán từ kết quả của các thử nghiệm an toàn.
ADI đại diện cho một lượng có thể được tiêu thụ hàng ngày trong suốt cuộc đời mà không có nguy cơ sức khỏe đáng kể. Các chất phụ gia đã được phê duyệt được đánh số và kết hợp với chữ E. Chữ E cho thấy chất phụ gia đã được chấp nhận là an toàn để sử dụng trong Liên minh Châu Âu. Sau khi một chất phụ gia đã được phê duyệt, việc kiểm tra lặp lại thường xuyên vẫn được tiến hành để đảm bảo sự an toàn. Qui định về nhãn thực phẩm cũng bao gồm việc cung cấp thông tin về hầu hết các chất phụ gia có trong danh sách thành phần. Nguy cơ từ phụ gia thực phẩm hay được nhấn mạnh để tạo sự thu hút cho cộng động, nhưng trên thực tế nguy cơ của nó được đánh giá là thấp hơn rất nhiều so với các nguy cơ từ hút thuốc, ô nhiễm môi trường, uống rượu quá nhiều, vật liệu xây dựng có chứa amiang, khói ... Sử dụng phụ gia thực phẩm theo qui chuẩn quốc tế và Việt Nam với hàm lượng cho phép là an toàn đối với sức khoẻ.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những thực phẩm nào có thể chứa Ethylene oxide?
Tài liệu tham khảo
Cancer Control Opportunities in Low- and Middle-Income Countries. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK54025/
https://www.cancer.org/cancer/cancer-causes/general-info/known-and-probable-human-carcinogens.html
Trái cây vẫn có thể xuất hiện trong thực đơn của người bệnh tiểu đường nếu lựa chọn đúng loại và kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp để hỗ trợ ổn định glucose máu.
Giai đoạn chuyển mùa từ đông sang xuân tại miền Bắc thường xuất hiện hiện tượng nồm ẩm và mưa phùn, khiến độ ẩm tăng cao và tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển mạnh. Kiểu thời tiết này đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em, người cao tuổi và những người có bệnh lý nền, do các bệnh về đường hô hấp dễ dàng bùng phát và trở nặng. Nhằm giúp người dân chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về các biện pháp khoa học và thiết thực nhất ngay dưới đây.
Các bậc cha mẹ luôn muốn điều tốt nhất cho con cái của mình. Đó là lý do tại sao rất nhiều bậc cha mẹ phải vật lộn với những lựa chọn nuôi dạy con. Và xét cho cùng, chúng ta cũng chỉ là con người, việc cảm thấy bực bội với con cái là điều bình thường, đặc biệt là khi chúng cư xử không đúng mực. Nhưng cách bạn thể hiện sự bực bội và giải quyết tình huống có thể ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách và sức khỏe lâu dài của trẻ. Cùng đọc tiếp để tìm hiểu xem các nghiên cứu lâm sàng đã phát hiện ra về tác động lâu dài của việc la mắng đối với trẻ em!
Rối loạn nội tiết có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, cân nặng, chu kỳ kinh nguyệt và tâm trạng. Bên cạnh điều trị y khoa, một số loại trà được nghiên cứu cho thấy có thể hỗ trợ điều hòa hormone ở mức độ nhất định.
Trong xu hướng tìm kiếm các hợp chất tự nhiên để hỗ trợ sức khỏe, Kim ngân hoa nổi lên như một nguyên liệu tiềm năng nhờ khả năng can thiệp vào các lộ trình tín hiệu liên quan đến stress oxy hóa và viêm.
Trong xã hội hiện đại, phụ nữ thường phải đối mặt với áp lực lớn khi vừa khẳng định sự nghiệp vừa gánh vác trách nhiệm gia đình, dễ dẫn đến tình trạng kiệt sức và bất ổn tâm lý. Nhằm giúp phái đẹp bảo vệ nền tảng tư duy và cảm xúc, Viện y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về việc xây dựng các thói quen lành mạnh mỗi ngày. Đây chính là giải pháp thiết thực để cải thiện chất lượng sống, đồng thời tạo nên "tấm khiên" vững chắc giúp chị em phụ nữ duy trì sự cân bằng và vượt qua những biến động trong cuộc sống
Các loại hạt giàu omega-3 và chất béo không bão hòa giúp cải thiện cholesterol máu, giảm viêm và bảo vệ thành mạch. Bổ sung hợp lý trong khẩu phần ăn hằng ngày có thể góp phần phòng ngừa bệnh tim mạch.
Sức khỏe phụ nữ là nền tảng quan trọng cho hạnh phúc gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội. Người phụ nữ hiện đại không chỉ đảm đương vai trò kinh tế mà còn gánh vác trách nhiệm chăm sóc gia đình, điều này vô tình tạo ra những áp lực lớn lên cả thể chất lẫn tinh thần. Việc trang bị kiến thức về các vấn đề sức khỏe thường gặp là bước đi tiên quyết để chị em chủ động bảo vệ bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ. Trong bài viết dưới đây, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chi tiết giúp chị em có cái nhìn tổng quan và khoa học nhất về vấn đề này.