Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Người bệnh tim mạch ai nên dùng và không nên dùng aspirin?

Aspirin là một thuốc dùng rất phổ biến trên toàn cầu và đã được dùng trên thế giới hơn một thế kỷ nay. Vậy trong bệnh lý tim mạch, những trường hợp nào nên dùng aspirin và trường hợp nào không nên dùng?

Aspirin thường được dùng để làm hạ sốt và giảm đau. Sự phổ biến của aspirin đến mức chúng ta có thể tự mua thuốc này ở bất cứ quầy thuốc, thậm chí cả trong các siêu thị của nhiều nước trên thế giới.

Vào thời điểm trước những năm 1970, aspirin được cho rằng không có lợi cho bệnh lý tim mạch. Tuy nhiên, hàng loạt các nghiên cứu lâm sàng trên hàng nghìn bệnh nhân tim mạch đã cho thấy aspirin là một hòn đá tảng trong dự phòng và điều trị nhồi máu cơ tim và tai biến mạch não. Aspirin đã trở thành một thuốc dùng phổ biến trong điều trị các bệnh lý động mạch vành, đặc biệt những bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim. Đến thời điểm này, chúng ta có thể khẳng định aspirin là một thuốc rẻ tiền mà không thể bỏ qua trong điều trị bệnh lý tim mạch.

Những trường hợp nhồi máu cơ tim nên dùng aspirin dự phòng tái phát.

Aspirin tác dụng như thế nào?

Aspirin làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim và tai biến mạch não thông qua con đường dự phòng hình thành cục máu đông. Khi mạch máu của bạn bị xơ vữa gây tổn thương lớp nội mạc bên trong mạch máu sẽ là điều kiện thuận lợi cho hình thành các cục máu đông trong lòng mạch. Tình trạng tổn thương mạch máu của bạn có thể do các nguyên nhân như tăng huyết áp, tăng đường máu, tăng cholesterol máu và các độc chất từ thuốc lá. Các cục máu đông trong lòng mạch của bạn có thể làm tắc nghẽn mạch máu của bạn, nếu mạch máu đó là mạch máu nuôi tim sẽ dẫn đến nhồi máu cơ tim, nếu mạch máu đó là mạch máu nuôi não sẽ dẫn đến tai biến mạch não.

Aspirin khi uống sau vài phút với tác dụng chống ngưng kết tiểu cầu sẽ giúp ngăn ngừa cục máu đông hình thành. Bệnh nhân có những mảng xơ vữa không ổn định, aspirin sẽ giúp làm giảm nhẹ độ nặng của nhồi máu cơ tim và tai biến mạch não cũng như dự phòng được nhồi máu cơ tim và tai biến mạch não.

Các “bất lợi” có thể xảy ra

Hầu hết tác dụng phụ của aspirin là trên dạ dày. Bệnh nhân thường có đau thượng vị do kích ứng dạ dày sau khi uống aspirin. Bạn có thể làm giảm tác dụng phụ này bằng cách uống thuốc sau khi đã ăn no. Trước đây, viên aspirin pH8 được đưa ra thị trường với mong muốn làm giảm tác dụng phụ lên dạ dày, tuy nhiên các nghiên cứu trên thế giới đã không cho thấy viên pH8 này có thể làm giảm nguy cơ này. Nguy cơ gây chảy máu dạ dày của aspirin khoảng 1 phần nghìn/mỗi năm. Chúng ta có thể hạn chế tác dụng phụ này bằng cách uống thêm các thuốc ức chế bơm proton như omeprazole. Một phần trăm bệnh nhân uống aspirin có thể bị dị ứng mà thường gây ra hen. Với những bệnh nhân dị ứng, chúng ta nên giải mẫn cảm. Sau khi giải mẫn cảm, bệnh nhân  nên dùng liên tục aspirin vì nếu dừng nó có thể dẫn tới tái dị ứng lại.

Những bệnh nhân nào nên dùng aspirin?

Theo khuyến cáo, aspirin được dùng cho bệnh nhân đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch não trước đó, sau phẫu thuật cầu nối động mạch vành và dự phòng huyết khối ở bệnh nhân sau phẫu thuật khớp háng.

Dùng aspirin ở người có đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim hoặc đã đặt stent động mạch vành cho thấy, aspirin làm giảm nguy cơ các biến chứng tim mạch (nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, tử vong do tim mạch) đến 25% ở bệnh nhân mới có nhồi máu cơ tim. Những bệnh nhân mới đặt stent hoặc nong động mạch vành, aspirin thường được cho cộng thêm một thuốc chống đông thứ hai như clopidogrel, prasugrel hoặc ticagrelor. Cần lưu ý, khi phối hợp hai thuốc kháng tiểu cầu có thể tăng nguy cơ làm chảy máu (10 trong 1.000 bệnh nhân điều trị trong 1 năm) khi so sánh dùng đơn độc aspirin.

Dùng ở người tai biến mạch não hoặc tai biến mạch não thoáng qua: aspirin giảm nguy cơ các biến cố tim mạch lớn tới 22% ở những bệnh nhân mới bị tai biến mạch não. Tuy nhiên, không phải tất cả tai biến mạch não đều dùng aspirin. Khoảng 1/6 bệnh nhân tai biến mạch não là do huyết khối từ tim bắn đi, trong những trường hợp này các thuốc chống đông khác như warfarin, dabigatran hoăc rivaroxaban có hiệu quả tốt hơn. Aspirin không thấy được bằng chứng lợi điểm khi dùng trong trường hợp tai biến mạch não do nhồi máu não.

Dùng ở người sau mổ cầu nối động mạch vành: aspirin làm giảm nguy cơ hỏng cầu nối ở 30% bệnh nhân sau mổ cầu nối động mạch vành.

Bệnh nhân sau mổ thay khớp háng: aspirin có thể ngừa được huyết khối gây nhồi máu phổi hoặc huyết khối mạch chi dưới ở những bệnh nhân sau phẫu thuật thay khớp háng. Aspirin có thể giảm 30% nguy cơ huyết khối tĩnh mạch chi hoặc nhồi máu phổi. Tuy nhiên, nhiều bác sĩ thích dùng heparin, enoxaparin, fondaparinux, rivaroxaban hơn là aspirin ở những bệnh nhân này.

Những trường hợp dùng aspirin không hiệu quả

Khi chúng ta không có tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch não trước đó, nhưng tuổi chúng ta lớn hơn 50 (nghĩa là chúng ta định dự phòng nguyên phát): Các thử nghiệm đều cho thấy rằng dùng aspirin để dự phòng nguyên phát là không có lợi, thậm chí có hại hơn cho bệnh nhân. Nếu nguy cơ các biến cố tim mạch lớn trong 10 năm tới thấp hơn 10%, chúng ta không nên dùng aspirin cho những bệnh nhân này.

Bệnh nhân có bệnh động mạch ngoại vi (nếu bạn có cơn đau cách hồi hoặc đau khi nghỉ do blốc mạch chi): bất chấp tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch não, bệnh nhân bệnh động mạch ngoại vi không cho thấy lợi điểm khi dùng aspirin.

Nếu bạn có bệnh lý huyết khối tĩnh mạch sâu, aspirin không cho thấy bằng chứng hiệu quả trong dự phòng tái phát huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc nhồi máu phổi.

Đối với trường hợp có đái tháo đường mà chưa có tai biến mạch não hoặc nhồi máu cơ tim, các thử nghiệm lâm sàng đã không cho thấy hiệu quả dự phòng tiên phát bằng aspirin. Tuy nhiên, hầu hết các khuyến cáo lâm sàng hiện nay lại khuyên nên dùng aspirin để dự phòng nhồi máu cơ tim ở bệnh nhân đái tháo đường.

TS.BS. Phạm Như Hùng (Tổng Thư ký Hội Tim mạch can thiệp Việt Nam) - Theo Sức khỏe và Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 14/02/2026

    Myricetin - Vai trò và ý nghĩa đối với sức khỏe

    Myricetin là một flavonol thuộc nhóm flavonoid – các hợp chất polyphenol phổ biến trong giới thực vật.

  • 14/02/2026

    6 lý do khiến phụ nữ bị đau bụng kinh dữ dội

    Co thắt nhẹ hay đầy hơi khi hành kinh là bình thường nhưng nếu đau bụng kinh dữ dội hoặc có thể kèm chảy máu ồ ạt, đó có thể là dấu hiệu bệnh lý phụ khoa nguy hiểm cần đi khám ngay.

  • 14/02/2026

    Điều gì xảy ra với cơ thể khi một người ăn riềng xay trộn chất cấm Vàng O?

    Thạc sĩ Lưu Liên Hương - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Viện Y học Ứng dụng Việt Nam cảnh báo, Vàng O có khả năng gây biến đổi tế bào và làm tăng nguy cơ ung thư khi tích lũy lâu dài trong cơ thể.

  • 14/02/2026

    Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho người độc thân trong ngày lễ Tình yêu

    Ngày Valentine đến, phố phường dường như nhộn nhịp hơn với hoa và quà, nhưng đôi khi điều đó lại khiến những người đang độc thân cảm thấy lòng chùng xuống. Nếu bạn đang cảm thấy một chút trống trải hay lạc lõng khi ngày lễ này cận kề, hãy nhớ rằng đó là những cảm xúc hoàn toàn tự nhiên.

  • 13/02/2026

    Thuốc nhuộm tóc có gây ung thư?

    Thuốc nhuộm tóc được sử dụng rộng rãi để che tóc bạc và thay đổi diện mạo. Tuy nhiên, nhiều người lo ngại các hóa chất trong thuốc nhuộm có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Vậy sự thật thế nào?

  • 13/02/2026

    Lợi ích của tình yêu và các hormone hạnh phúc đối với sức khỏe

    Tình yêu là một quá trình hoạt động tự nhiên của não bộ. Thay vì chỉ là cảm xúc đơn thuần, nó giống như một bộ máy điều khiển giúp cơ thể và tinh thần của chúng ta hoạt động tốt hơn. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ giải thích rõ hơn về cách hoạt động này để bạn thấy được tình yêu bảo vệ sức khỏe như thế nào. Việc tìm hiểu về các hoạt chất trong não không chỉ giải thích lý do chúng ta thấy vui vẻ, mà còn giúp giữ cho trái tim và trí óc luôn khỏe mạnh.

  • 12/02/2026

    Cẩm nang duy trì sức khỏe trong kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán

    Kỳ nghỉ Tết thường đi kèm với sự thay đổi đột ngột trong chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt, gây áp lực trực tiếp lên hệ tiêu hóa, chuyển hóa và hệ thần kinh.

  • 12/02/2026

    Làm ca đêm kéo dài, nội tiết phụ nữ thay đổi ra sao?

    Làm việc ca đêm khiến nhịp sinh học đảo lộn, kéo theo rối loạn nội tiết ở phụ nữ. Tình trạng này ảnh hưởng đến kinh nguyệt, sinh sản và sức khỏe lâu dài nếu không được kiểm soát.

Xem thêm