Nấm là một món ăn giàu protein, có thể thay thế cho những loại thịt trong các món ăn hàng ngày. Tuy nhiên cũng nên dè chừng với những loại nấm không thể ăn được, những loại nấm chứa độc tố cực mạnh.
Người ta vẫn coi nấm ăn được là một loại rau, nhưng thực tế thì họ nấm không được xếp vào thực vật. Nấm mọc ngoài tự nhiên rất nhiều, có loại mọc trên mặt đất, có loại mọc dưới mặt đất. Do nhu cầu của con người về nấm ngày càng tăng cao nên có một số loại nấm được con người gieo trồng, sản xuất hàng loạt.
Một số loại nấm phổ biến được sử dụng ở nước ta gồm có: nấm mỡ, nấm mèo, nấm hương, nấm tuyết, nấm đùi gà, nấm rơm, …. Nấm được chế biến thành các món xào, nấu canh, ăn sống hoặc sấy khô, thậm chí là đóng hộp.
Nấm giàu dinh dưỡng và chứa ít calo
Nấm chỉ cung cấp một lượng calo vô cùng nhỏ, nhưng lại là nguồn cung cấp protein cực kỳ phong phú và rất nhiều loại muối khoáng khác nhau như kali, selen, vitamin nhóm B. Không chỉ vậy, nấm còn chứa ít chất béo.
100 gram nấm mỡ có chứa:
Tuy nhiên, những loại nấm như Shiitake có thể đáp ứng được 45% nhu cầu đồng nạp vào từ chế độ ăn hàng ngày. Nấm có thể cung cấp những hàm lượng chất dinh dưỡng khác nhau phụ thuộc vào điều kiện bảo quản, cách chế biến, xử lý nấm.
Nấm giúp tăng cường hệ miễn dịch
Trong y học cổ truyền, nấm được coi là một vị thuốc quý giúp tăng cường sức khỏe. Ví dụ, nấm Shiitake được sử dụng để chữa trị chứng cảm lạnh do nấm có khả năng chống lại virus và khả năng kháng lại sự nhiễm khuẩn mạnh.
Cùng với đó, nấm còn chứa các polysaccharide chẳng hạn như beta gluten, có thể cải thiện hệ miễn dịch. Những loại nấm chứa nhiều chất trên có thể kể đến như shiitake, nấm sò.

Chiết xuất nấm hỗ trợ chống lại ung thư
Ở nhiều quốc gia châu Á như Việt Nam, những chất như beta-glucan chứa trong nấm được sử dụng để điều trị ung thư. Các nhà nghiên cứu tin rằng những chiết xuất từ nấm có hiệu quả trong việc ngăn chặn sự phát triển khối u. Mặc dù có thể nói rằng beta-glucan không có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư nhưng lại có tác dụng ngăn chăn các tế bào ung thư di căn và làm tăng tỷ lệ sống ở những bệnh nhân hóa trị. Trong một nghiên cứu các nhà khoa học thấy rằng những bệnh nhân ung thư đang hóa trị sử dụng chiết xuất nấm sống dài hơn được 25 ngày so với những bệnh nhân không được sử dụng chiết xuất nấm. Do vậy, có thể coi nấm là một phương thuốc thần kỳ. Nhưng cũng phải nói tới điểm là chiết xuất nấm không giúp làm giảm tác dụng phụ của hóa trị chẳng hạn như nôn hoặc buồn nôn.
Nấm có thể giúp trái tim khỏe mạnh
Nấm có chứa rất nhiều các chất dinh dưỡng khác nhau, giúp cholesterol. Ăn nấm thường xuyên có thể tăng lượng cholesterol tốt, giảm nồng độ triglyceride trong máu.
Nấm cũng có tác dụng giảm đường máu, chống lại quá trình oxi hóa do nấm có chứa polysaccharide và phenol, đều là những chất chống oxi hóa mạnh. Ví dụ nấm sò có chứa một lượng lớn các chất chống oxi hóa.
Nấm cũng giúp giảm lượng muối trong các món ăn chế biến từ thịt do đó làm giảm được lượng muối nạp vào hàng ngày.
Nấm cung cấp vitamin D
Không phải loại nấm nào cung có chứa vitamin D. Nấm mọc ngoài tự nhiên có chứa lượng vitamin D lớn hơn nấm nuôi trồng trong nhà, tuy nhiên còn phụ thuộc vĩ độ và kinh độ của từng vùng địa lý.
Nấm gây độc
Những loại nấm mọc hoang dã tự nhiên, không phải loại nào cũng ăn được. Có rất nhiều loại có chứa những chất độc rất mạnh, Dấu hiệu khi ngộ độc nấm có thể là nôn, buồn nôn, đau bụng, ảo giác, mệt mỏi toàn thân. Trong một số trường hợp ngộ độc nặng có thể dẫn đến tử vong.
Nấm là một thực phẩm quý báu, rất tốt cho sức khỏe bởi chứa nhiều chất xơ, vitamin và muối khoáng. Nấm cũng có tác dụng chữa trị bệnh, tăng cường miễn dịch và có thể giúp chống lại ung thư. Tuy nhiên, nhiều nấm tự nhiên có chứa chất độc vì vậy bạn phải có kiến thưc nhất định về các loại nấm. Để đảm bảo an toàn, chỉ nên sử dụng những loại nấm thông dụng và cố gắng thêm nấm vào trong những món ăn hàng ngày giúp tăng hương vị món ăn và nâng cao sức khỏe.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Bột protein đậu: giá trị dinh dưỡng, lợi ích và những nguy cơ
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!
Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.
Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.
Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.
Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.