1. Thế nào là lao màng ngoài tim và nguyên nhân?
Màng ngoài tim gồm hai lá trung biểu mô: lá thành phủ mặt trong trung thất giữa và dưới; lá tạng bọc mặt ngoài tim và gốc các mạch máu lớn đi từ tim ra. Bình thường trong khoang màng tim có một lớp dịch mỏng để làm trơn cho tim co bóp.
Lao màng ngoài tim là tình trạng trực khuẩn lao vào máu đi đến tấn công và gây bệnh ở tim, trong đó đa phần là ảnh hưởng đến màng ngoài tim. Có ba thể lâm sàng lao ngoài màng tim là: Viêm khô màng ngoài tim, tràn dịch màng ngoài tim và viêm màng ngoài tim co thắt.
Vi khuẩn lao xâm nhập gây viêm màng tim làm tăng tiết dịch, dịch nhiều; hoặc làm màng tim dày, xơ, dính, bóp nghẹt làm cho trái tim khó co giãn. Hơn nữa những tổn thương ở lá tạng có thể lan vào cơ tim. Người bệnh mắc lao màng ngoài tim có thể kèm theo bệnh lý lao màng phổi, màng bụng và một số bộ phận khác.

Người bệnh bị lao ngoài màng tim có các biểu hiện như lao bình thường.
2. Biểu hiện bị lao màng ngoài tim
Người bệnh bị lao ngoài màng tim có các biểu hiện giống lao bình thường như: Sốt nhẹ buổi chiều, chán ăn, mệt mỏi, xanh xao. Ngoài ra có các biểu hiện như sau:
Đau vùng trước tim hay đau sau xương ức. Đau tăng lên khi nuốt hoặc hít thở. Đôi khi đau lan ra tay trái như đau thắt ngực trong bệnh mạch vành hoặc đau lan xuống vùng thượng vị.
Khi dịch trong khoang màng ngoài tim nhiều, ép vào tim làm cho tim không thực hiện tốt nhiệm vụ thu hồi máu và đẩy máu đi thì có thêm dấu hiệu khó thở và ứ trệ tuần hoàn (phù, gan to, tĩnh mạch cổ nổi). Những triệu chứng trên cũng gặp khi màng tim dày, xơ và dính.
Bệnh nhân lao màng ngoài tim gặp một số tình trạng như đau nặng tức ngực, ho, khó thở dễ thở hơn nếu ngồi, thỉnh thoảng cảm giác nghẹn hay nuốt nghẹn...
Mạch nhanh, mạch nghịch, tiếng tim mờ, gan to, bụng báng, phù, tĩnh mạch cổ nổi
Khi xét nghiệm chụp Xquang, siêu âm, chọc hút lấy dịch… sẽ thấy bóng tim lớn, một số thâm nhiễm vào phổi, tràn dịch màng phổi.
3. Chẩn đoán lao màng ngoài tim
Tràn dịch màng ngoài tim, về bệnh cảnh, có thể nhầm lẫn với suy tim và siêu âm để xác định rất quan trọng. Nguyên nhân lao có thể bị nhầm lẫn với ung thư màng tim (đặc biệt là ung thư thứ phát sau ung thư phổi, trung thất hoặc bệnh u lympho ác tính) hoặc với các nguyên nhân không lao như viêm màng ngoài tim do các vi khuẩn khác và siêu vi khuẩn...

Tràn dịch màng ngoài tim, về bệnh cảnh, có thể nhầm lẫn với suy tim và siêu âm để xác định là rất quan trọng.
Bệnh nhân được chẩn đoán lao màng ngoài tim nếu có tối thiểu 1 trong 2 điều kiện sau: Người bệnh cho kết quả AFB dương tính khi soi hoặc cấy dịch màng tim. AFB dương tính hoặc u hạt bã đậu và đại bào Langhans khi sinh thiết màng ngoài tim.
4. Điều trị lao màng ngoài tim
Về điều trị bệnh lao màng ngoài tim, ngoài việc sử dụng thuốc chống lao theo đúng nguyên tắc, bác sĩ còn phải chọc hút dịch khi khối lượng dịch nhiều gây ép tim. Chỉ nên chọc hút khi khối lượng dịch từ 200 ml trở lên (có thể xác định tốt bằng siêu âm).
Việc để cho màng tim dày dính cũng nguy hiểm không kém gì tình trạng thừa dịch vì tim bị bóp lại trong một cái túi xơ cứng. Khi hậu quả này xảy ra, người bệnh phải được phẫu thuật bóc bỏ cái túi ấy đi thì trái tim mới yên được.
Người bệnh lao màng ngoài tìm có thể được điều trị bằng Corticosteroids để làm giảm tỷ lệ tử vong và giảm tiết dịch, nếu không có chống chỉ định.
Khi siêu âm và khám lâm sàng phát hiện có các dấu hiệu và triệu chứng của biến chứng lao màng tim như chèn ép tim do dịch hay co thắt màng tim, bệnh nhân sẽ được chụp X quang ngực hay các xét nghiệm khác để tiến hành can thiệp
Trong trường hợp dày dính màng ngoài tim gây nên viêm màng ngoài tim co thắt, can thiệp ngoai khoa càng sớm càng tốt, nếu không sẽ gây khó khăn trong phẫu thuật và di chứng suy tim nặng về sau.
Tràn dịch màng tim nhiều, tái lập nhanh có thể dẫn lưu dịch màng tim
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Những điều không thể bỏ qua về Lao màng não ở trẻ em.
Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.
Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.
Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.
Trong hành trình yêu thương bản thân, việc thấu hiểu cơ thể là bước đầu tiên để phái đẹp bảo vệ sức khỏe trọn vẹn. Ung thư vú là căn bệnh thường gặp do các tế bào tuyến vú phát triển ngoài tầm kiểm soát, nhưng hoàn toàn có thể chữa lành hiệu quả khi được phát hiện kịp thời, giúp việc điều trị trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Nhằm đồng hành và tiếp thêm sự tự tin cho chị em, Viện Y học Ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những dấu hiệu nhận biết cùng các bước tự kiểm tra tại nhà đơn giản. Đây sẽ là giải pháp lắng nghe cơ thể hiệu quả, giúp phái đẹp luôn chủ động gìn giữ sức khỏe và an yên trong cuộc sống.
Thời điểm giao mùa, khi nhiệt độ và độ ẩm không khí thay đổi liên tục, là giai đoạn virus cúm hoạt động mạnh nhất trong năm. Đây cũng là lúc số ca mắc cúm mùa tại các cơ sở y tế tăng cao, đặc biệt ở trẻ nhỏ, người cao tuổi và người có bệnh nền.
Mùa đông không chỉ mang lại cảm giác se lạnh mà còn tiềm ẩn những nguy cơ đối với sức khỏe tim mạch. Nhiệt độ giảm thấp có thể làm tăng huyết áp, gia tăng nguy cơ các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim hay đột quỵ. Bài viết này sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về bệnh tim mạch, các dấu hiệu cảnh báo và những biện pháp phòng ngừa để giữ cho trái tim luôn khỏe mạnh.
Một nghiên cứu mới đã phát hiện mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nhiều các loại quả mọng (như dâu tây, việt quất, mâm xôi...) và quá trình lão hóa lành mạnh hơn. Cùng tìm hiểu về vai trò của quả mọng với quá trình lão hóa ở người cao tuổi qua bài viết sau!
Nhiều đợt khảo sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản tại Mỹ, dựa trên số liệu kiểm nghiệm của cơ quan nông nghiệp nước này, cho thấy có ba loại trái cây quen thuộc thường xuyên đứng đầu danh sách phát hiện nhiều dư lượng hóa chất nông nghiệp bao gồm: dâu tây, nho và táo.