Theo hướng dẫn mới nhất từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), nếu bạn đã được tiêm chủng đầy đủ vaccine COVID-19, bạn có thể tiếp tục những hoạt động mà trước đây bạn không thể thực hiện một cách an toàn.
Tuy nhiên, có những tình huống bạn vẫn cần phải đeo khẩu trang.
Dưới đây là những điều bạn cần biết về thời gian, địa điểm và lý do bạn cần tiếp tục đeo khẩu trang.
Ai được coi là đã tiêm chủng đầy đủ?
Để biết liệu bạn đã được tiêm chủng đầy đủ hay chưa, trước tiên bạn cần biết bạn đã nhận được loại vaccine nào.
Đối với các loại vaccine như vaccine Pfizer-BioNTech và Moderna, được tiêm hai liều, thì bạn được coi là đã tiêm đầy đủ vaccine vào thời điểm 2 tuần sau khi tiêm liều thứ hai.
Đối với vaccine của Johnson & Johnson, được tiêm một liều duy nhất, bạn được coi là đã được tiêm chủng đầy đủ sau 2 tuần kể từ khi tiêm liều đó.
Cho đến khi kết thúc thời gian chờ đợi 2 tuần bắt buộc sau tiêm, bạn sẽ không được coi là đã được tiêm chủng đầy đủ và phải tiếp tục tuân theo tất cả các biện pháp phòng ngừa, bao gồm cả việc đeo khẩu trang.
Điều quan trọng cần lưu ý là nếu bạn có bất kỳ vấn đề sức khỏe nào hoặc đang dùng bất kỳ loại thuốc nào làm suy yếu hệ thống miễn dịch của bạn, bạn sẽ không được coi là được bảo vệ đầy đủ ngay cả khi đã tiêm phòng đủ liều. Trong trường hợp này, bạn cần tiếp tục đeo khẩu trang trong mọi tình huống.
Bạn cũng có thể nhận sự tư vấn thêm từ các chuyên gia
Bạn nên đeo khẩu trang khi nào và ở đâu?
Theo Tiến sĩ S. Wesley Long , một nhà nghiên cứu tại Bệnh viện Houston Methodist ở Texas, bất cứ khi nào bạn ở nơi công cộng với những người mà bạn không biết tình trạng tiêm chủng của họ, bạn nên đeo khẩu trang.
Nếu bạn đang ở khu vực đông đúc hoặc tụ tập đông người, thì việc đeo khẩu trang cũng là điều cần thiết.
Theo các chuyên gia mặc dù hầu hết dữ liệu cho thấy những người được tiêm chủng không có khả năng lây truyền virus nếu bị nhiễm bệnh, nhưng nếu bạn tiếp xúc với những người có nguy cơ cao hoặc bị suy giảm miễn dịch, tốt hơn hết là bạn nên đeo khẩu trang để giúp bảo vệ họ.
Bạn nên tiếp tục đeo khẩu trang ở nhà khi bạn ở xung quanh những người chưa được tiêm chủng hoặc những người lạ đến chơi nhà không phải là người thân của bạn, nhất là khi bạn không thể duy trì khoảng cách an toàn.
Cơ quan, trường học, máy bay, nhà hàng, cửa hàng tạp hóa hoặc các cơ sở bán lẻ khác sẽ là những những nơi bạn cần tiếp tục đeo khẩu trang.

Tại sao cần tiếp tục đeo khẩu trang?
Tiến sĩ Shruti Gohil từ Đại học California, cho biết mục tiêu của của miễn dịch cộng đồng là hạn chế sự lây truyền trong dân số. Tiêm chủng là một trong những chiến lược để đạt được mục tiêu này.
Tuy nhiên, cho đến khi tỷ lệ hiện nhiễm trong cộng đồng đủ thấp, tất cả chúng ta phải tiếp tục đeo khẩu trang trong nhà.
Mặc dù điều này có thể không được hưởng ứng ở một số cá nhân vì họ cho rằng bản thân họ đã được tiêm chủng được bảo vệ tốt, nhưng có những lý do chính đáng giải thích cho việc tại sao mọi người nên tiếp tục đeo khẩu trang.
Thứ nhất, có một tỷ lệ nhỏ, trong khoảng 4 đến 5%, cho thấy một người được tiêm chủng vẫn có thể bị bệnh và có thể truyền virus cho người khác.
Thứ hai, không có cách nào để biết chính xác ai đã được tiêm phòng đầy đủ. Nếu chúng ta nới lỏng tiêu chí đeo khẩu trang cho một số người đã được tiêm phòng, điều này có thể khiến những người chưa được tiêm chủng nghĩ rằng họ không cần đeo khẩu trang nữa.
Chỉ khi mức độ lây nhiễm của virus giảm về mức thấp không gây hại thì các yêu cầu về đeo khẩu trang sẽ được nới lỏng. CDC đã nới lỏng các tiêu chí cho những người được tiêm chủng có thể bỏ khẩu trang để có thể giao tiếp với những người khác được tiêm chủng.
Điểm mấu chốt
Mặc dù CDC đã nới lỏng các khuyến nghị về việc đeo khẩu trang đối với những người đã được tiêm chủng đầy đủ, nhưng điều quan trọng là bạn phải đeo khẩu trang để bảo vệ những người xung quanh bạn.
Bạn nên tiếp tục đeo khẩu trang ở trong nhà các không gian kín, khu vực đông người và những nơi có người lạ mà bạn không biết họ đã được tiêm chủng chưa.
Bạn cũng nên đeo khẩu trang nếu tiếp xúc thường xuyên với những người có nguy cơ cao hoặc suy giảm miễn dịch.
Việc đeo khẩu trang vẫn rất quan trọng, ngay cả sau khi đã được tiêm phòng, cho đến khi tỷ lệ lưu hành của căn bệnh này giảm đáng kể.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Tại sao tiêm vaccine COVID-19 mũi thứ 2 rất quan trọng?
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!