Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Hóa chất trong thực phẩm và những điều bạn cần biết

Khi thức ăn, nước uống bị nhiễm hóa chất, ngoài ảnh hưởng tức thời đến sức khỏe như ngộ độc thực phẩm, làm nguy hại tới dạ dày, ruột… thì sự tích lũy theo thời gian của những hóa chất này còn gây ra những nguy hại, chẳng hạn như biến đổi gen gây ung thư hóa.

Các đường nhiễm hóa chất vào thực phẩm

Con đường nhiễm hóa chất vào thực phẩm thụ động

Trong đất, nước giếng khoan, nước giếng khơi luôn có sẵn các loại kim loại nặng như arsenic, chì, mangan, chất phóng xạ. Con người có khả năng bị nhiễm hóa chất gây ngộ độc do dùng nước uống, ăn trực tiếp, hay thông qua ăn các cây, củ, động vật; cá. Chẳng hạn như cây quả trồng trong vùng đất có nhiều hóa chất nhóm clo hữu cơ (DDT, Dioxin), người dùng sẽ bị ngộ độc thủy ngân khi ăn cá sống tại vùng nước có nhiều chất thải là thủy ngân, hoặc ăn sò hến, tôm cua biển có thể ngộ độc arsenic do vùng biển đó có nhiều arsenic.

Người dùng có thể bị ngộ độc thủy ngân do ăn cá nhiễm thủy ngân cao

Nhiễm hóa chất vào thực phẩm chủ động

Để nhằm mục đích tăng lợi nhuận thu hoạch, chống sâu bệnh, bảo quản thực phẩm lâu dài, màu sắc hấp dẫn người tiêu thụ, con người sẽ tạo ra các loại hóa chất dùng trong chế biến và sản xuất thực phẩm. Cụ thể như:

– Phổ biến là các hóa chất bảo vệ thực vật, các hóa chất trừ sâu, trừ nấm do sử dụng không đúng kỹ thuật không đảm bảo thời gian cách ly của các hóa chất có thời gian phân hủy dài, thu hoạch quá nhanh và sớm.

– Các hóa chất bảo quản quả, củ để chống sâu, mọt, thối, các chất nhân cho vào bánh, các chất làm rắn, giòn thực phẩm (bún, bánh phở, giò chả…) nhưng lại gây độc, không được phép dùng, các phẩm màu hấp dẫn (bánh kẹo…)

– Sử dụng các thức ăn chăn nuôi có sẵn các hóa chất tồn dư, các kháng sinh (streptomycin, chloramphenicol) các hormone (clenbuteron) trong thịt heo, bò và cả trong thực phẩm biển và sữa uống.

– Dùng các phụ gia không trong danh mục qui định của nhà nước, các chất kích thích giá đỗ tăng trưởng, các phẩm màu độc hại (Sudar, I Và IV), các chất tạo ngọt nhân tạo quá mức trong các loại bánh kẹo, nước ngọt, nước chấm.

– Các hóa chất độc tạo ra trong quá trình chế biến thức ăn (Đun quá nóng dầu hạt cải trong chảo lớn bốc khói độc benzen, acrolein, fomaldehyde và aldehyde những chất nầy là nguyên nhân gây ung thư, bạch cầu cao trong tương lai gần.

– Các hóa chất độc như NH3, N2S, indol, phenol scatil, betain hay histamin có trong thực phẩm thịt sữa bị ôi thiu.

– Do dụng cụ chứa đựng, chế biến thực phẩm còn tồn dư các chất tẩy rửa ô nhiễm vào thực phẩm (dùng nước Javel tẩy xoong, chảo, chén bát chưa làm sạch).

Các hóa chất độc hay gây ngộ độc thực phẩm

Nhóm hóa chất bảo vệ thực vật (diệt sâu bọ, nấm mốc…)

Nhóm phospho hữu cơ, còn gọi là lân hữu cơ được phun diệt sâu bọ cho loại rau thu hoạch nhanh là: Diazinon, Dichlorovos, Bi 58, Wofatox, monnitor Dipterex, parathion…

Nhóm clor hữu cơ: (diệt sâu, bọ) tồn dư trong đất rất lâu (nhiều năm) như: DDT, 666, lindan, clodan, heptachlor, Nerei stoxin (shachoogdan, shachoongsoong): cực độc.

Nhóm khác:

– Nhóm Carbamat: Cartap, Carbaryl, Fenobucarb.

– Nhóm Pyrethroit: cypermethrin, Feupropathrin.

Nhóm hóa chất diệt chuột:

– Phospho kẽm (Forkeba)

– Wafarin (Diphacinone)

– Sodium fluoroacetamide: hóa chất diệt chuột Trung quốc cực độc.

– Triazin (hóa chất diệt chuột Trung quốc cực độ)

Hóa chất diệt cỏ (cho cây cà phê, cây chè, vải, mận)

– 2,4 D

– 2,4,5T (Dioxin)

– Parquat và diquat

Thuốc bảo vệ thực vật lưu lại trong rau quả có thể là hóa chất gây ngộ độc

Các thực phẩm dễ nhiễm hóa chất độc

Rau, quả: Do sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, hóa chất bảo quản

Các loại thủy sản: Nhiễm kim loại nặng (thủy ngân, arsenic, mangan, các kháng sinh và hormone tồn dư).

Bánh, kẹo, nước ngọt: Có nhiều các chất phụ gia ngọt nhân tạo, phẩm màu đã bị cấm.

Thực phẩm chế biến: Có các chất độc hàn the, (formaldehyde), phẩm màu, chất tạo ngọt, chất bảo quản chứa trong bún, bánh phở, nước ngọt, giò chả…

Các loại thịt và phủ tạng: Còn tồn dư kháng sinh, hormone và hóa chất bảo quản độc formaldehyde.

Dấu hiệu và triệu chứng ngộ độc thực phẩm nhiều hóa chất độc liên quan đến

Ăn uống các loại thực phẩm, nước uống có các yếu tố nguy cơ ô nhiễm

+ Thực phẩm không rõ nguồn gốc, nhập lậu, không có dấu tem kiểm tra kiểm soát của cục Vệ sinh An toàn Thực phẩm.

+ Thực phẩm bị biến chất do quá hạn sử dụng, có màu, mùi khác biệt, thực phẩm mua ở các hàng rong, quán mặt đường không có giấy phép kinh doanh.

+ Thực phẩm được sản xuất ở các vùng dịch tễ về hóa chất ô nhiễm như nhà máy hóa chất, kho hóa chất, địa điểm sử dụng nhiều hóa chất.

Người bị ngộ độc sau khi ăn uống thực phẩm có hóa chất thường có triệu chứng cấp tính từ vài phút đến vài giờ như:

+ Đầy bụng, đau bụng, lợm vọng buồn nôn và nôn liên tục, sau đó đi ngoài nhiều lần, mệt và khát nước.

+ Các triệu chứng về thần kinh thực vật: xanh nhợt vã mồ hôi, lạnh, tăng tiết nước bọt, co đồng tử vật vã, co giật, rối loạn nhịp tim, triệu chứng đái ít, vô niệu, vàng da.

+ Lấy mẫu thực phẩm còn lại, chất nôn từ dạ dày người bệnh, xét nghiệm máu, nước tiểu tại các Trung tâm chống độc hay các phòng xét nghiệm lớn có thể tìm thấy độc chất và nồng độ độc chất trong cơ thể.

Xử trí cấp cứu

Với các loại thực phẩm nghi ngờ độc và các chất nôn từ dạ dày cần được giữa lại để đưa đi xét nghiệm. Có thể dùng một tampon ngoáy nhẹ vào thành bên họng để gây nôn cho bệnh nhân nếu họ không nôn được.

Cho bệnh nhân uống nước có pha orezol, khoảng 100- 200ml/ 1 giờ sau khi đã nôn hết thực phẩm trong dạ dày khoảng 2-3 lần. Lưu ‎‎ ý để bệnh nhân được hồi phục lại lượng nước và điện giải đã bị mất do nôn, cần cho uống dung dịch orezol trong 24h.

Dùng 50g bột than hoạt pha với 250ml nước, khuấy đều lên rồi cho bệnh nhân uống 1 lần. Đồng thời, cho uống thêm 20g sorbitol để nhuận tràng nếu bệnh nhân không đi ngoài. Phải dùng thuốc nhuận tràng là sorbitol sau khi uống bột than hoạt là do than hoạt gây táo bón mặc dù có tác dụng hấp phụ độc chất trong dạ dày, ngăn cản sự hấp thụ độc chất qua thành ruột vào máu.

+ Có thể tiêm cho người bệnh 1 ống Atropin (1/4mg) vào bắp thịt hay dưới da nếu còn nôn khan và đau bụng.

+ Hoặc sử dụng thuốc băng bó dạ dày gastropulgit hay phospholugit (1- 2 gói/ 5g) để cho bệnh nhân uống.

+ Trường hợp tình trạng của người bệnh không được cải thiện thì phải gọi điện thoại xin tư vấn của bác sĩ hay Trung tâm Chống độc, hoặc chuyển đến một đơn vị y tế gần nhất.

+ Còn nếu thể trạng của bệnh nhân khá hơn thì nên ủ ấm cho người bệnh, pha nước cháo đường và muối cho bệnh nhân uống liên tục ( từ 2-4lít trong 24 giờ)

Dự phòng ngộ độc thực phẩm do nhiều hóa chất

– Lựa chọn thực phẩm có yếu tố nguy cơ ô nhiễm thấp nhất:

+ Thực phẩm có dấu nhãn kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm.

+ Thực phẩm trong các siêu thị lớn.

+ Rau quả mua về phải rửa nước nhiều lần, gọt võ kỹ, không nên ăn rau sống.

– Để bảo đảm nguồn nước không bị ô nhiễm, nên xét nghiệm kiểm tra trước nguồn nước ăn (giếng khoan, nước máy…).

– Với những loại thực phẩm không rõ nguồn gốc, nhập lậu thì không sử dụng.

– Không dùng thực phẩm trong các quán rong, mặt đường ô nhiễm.

– Không dùng thực phẩm, nước uống đựng trong các thùng chứa là vỏ đựng hóa chất.

– Không đảm bảo sạch hoặc gần các lọ, hộp, thùng đựng hóa chất.

– Không đựng hóa chất vào các vỏ chai nước uống thông thường vì dễ xảy ra tai nạn “uống nhầm”.

Theo Tiengiang.edu.vn
Bình luận
Tin mới
  • 02/11/2026

    Tình trạng mất cơ khi dùng thuốc GLP-1: Những điều cần biết

    Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.

  • 02/11/2026

    Cúm, COVID-19, viêm phổi và RSV – 4 bệnh truyền nhiễm dễ bùng phát khi trời lạnh

    Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.

  • 01/11/2026

    Chiến dịch Movember và hành trình chủ động bảo vệ sức khỏe phái mạnh

    Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.

  • 01/11/2026

    Lợi ích của hoạt động ngoài trời trong mùa đông

    Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.

  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

Xem thêm