Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Hiểu đúng về nhóm máu và nguyên tắc truyền máu

Năm 1901, Landsteiner phát hiện ra hiện tượng: huyết thanh của người này làm ngưng kết hồng cầu của người kia và ngược lại. Sau đó nguời ta đã tìm được kháng nguyên A và kháng nguyên B, kháng thể a (chống A) và kháng thể b (chống B).

Hiểu đúng về nhóm máu và nguyên tắc truyền máu

Đến nay đã tìm ra được rất nhiều kháng nguyên. Dựa trên sự có mặt của các kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu, người ta phân chia thành các hệ thống nhóm máu ABO, Rh, Duffy, Kids, Lewis, Kells, P, MNSs.... Trong số này, hệ thống nhóm máu ABO và Rh được quan tâm nhiều hơn cả vì nó đóng vai trò quan trọng trong truyền máu.

Mỗi một nhóm máu lại mang những đặc trưng riêng, kết cấu của mạch máu có thể bị phá vỡ nếu truyền không đúng nhóm máu tương thích. Vì thế, việc biết bạn thuộc nhóm máu nào và các đặc tính của nó ra sao là rất quan trọng.

Vì sao có nhiều nhóm máu khác nhau?

Các nhà khoa học tin rằng việc tổ tiên loài người thích nghi với các bệnh truyền nhiễm ra sao là nguyên nhân sinh ra các nhóm máu khác nhau. Ví dụ, bệnh sốt rét dường như là nguyên nhân chính tạo ra nhóm máu O, nhóm máu này phổ biến hơn ở châu Phi và các khu vực của thế giới từng phải chịu gánh nặng bệnh sốt rét. Trong nhiều trường hợp các tế bào nhiễm bệnh sốt rét không thể tấn công vào các tế bào của nhóm máu O hoặc các tế bào nhóm máu B. Kết quả là những người có nhóm máu O có sức đề kháng tốt hơn với bệnh sốt rét.

Các nhóm máu được phân loại như thế nào?

Máu con người được chia làm nhiều nhóm dựa theo một số chất cacbohydrat và protein đặc thù trên hồng cầu. Có khoảng 46 nhóm khác nhau, nhưng những nhóm chính là O, A, B và yếu tố Rhesus (Rh). Máu của mỗi nhóm có thể có kháng thể chống lại những nhóm kia. Do đó, khi truyền máu khác nhóm vào, kháng thể của người nhận có thể phá hủy máu gây tác hại cho cơ thể.

Kháng nguyên và kháng thể

Nói chung, kháng nguyên là "bất kỳ chất nào mà hệ thống miễn dịch có thể đáp ứng". Màng của mỗi tế bào hồng cầu chứa hàng triệu kháng nguyên bị hệ thống miễn dịch bỏ qua, mặc dù hệ thống miễn dịch sẽ tấn công bất kỳ tế bào hồng cầu nào có chứa kháng nguyên khác với các tế bào tự kháng nguyên của chúng.

Kháng thể là các phân tử quan trọng mà hệ thống miễn dịch của chúng ta sản sinh ra để giúp bảo vệ cơ thể chống lại những tác nhân xâm nhập bên ngoài như vi khuẩn và virus. Các vi khuẩn và virus này cũng có thể được hình thành để đáp ứng các nhóm máu khác nhau.

Có khoảng 46 nhóm khác nhau, nhưng những nhóm chính là O, A, B và yếu tố Rhesus (Rh).

Yếu tố Rh

Hầu hết mọi người (khoảng 85% loài người) có một loại protein đặc biệt trên các tế bào máu, được gọi là yếu tố Rh. Những trường hợp này gọi là Rh+ (có nhóm máu dương tính Rh). Những người thiếu yếu tố Rh, được gọi là Rh- (có nhóm máu âm tính Rh).

Phụ nữ mang thai cần các xét nghiệm yếu tố Rh trong máu, thông qua đó để sàng lọc và phát hiện sự tương thích trong cơ thể mẹ và bé. Nếu người mẹ có Rh- và em bé là Rh+, cơ thể người mẹ sẽ phản ứng với máu của em bé như một chất bên ngoài. Cơ thể mẹ sẽ tạo ra kháng thể (protein) chống lại máu Rh+ của em bé. Rh không tương thích có thể gây ra các vấn đề khó khăn trong lần mang thai sau của người mẹ, khi kháng thể Rh có thể đi qua nhau thai và tấn công các tế bào hồng cầu của em bé dẫn đến tình trạng thiếu máu tan huyết ở em bé, nghĩa là các hồng huyết cầu bị phá hủy.

May mắn là nếu phát hiện sớm sự không tương thích trên, các bác sỹ sẽ áp dụng phương pháp điều trị trước khi sinh, giúp ngăn chặn bất kỳ vấn đề nào trước khi chúng nảy sinh.

Có những nhóm máu nào?

Nhóm máu A

Nhóm máu A được đặc trưng bởi sự hiện diện của kháng nguyên A trên các tế bào hồng cầu, và kháng thể B trong huyết tương.

Những người có nhóm máu A có thể an toàn hiến máu cho những người khác có cùng nhóm máu A, hoặc những người mang nhóm máu AB. Ngoài ra, những người có nhóm máu A cũng có thể nhận máu truyền của những người mang nhóm máu O.

Nhóm máu B

Nhóm máu này tương đối hiếm (chỉ đứng sau AB). Nó chứa các kháng nguyên B trên tế bào hồng cầu, và kháng thể A (để tấn công kháng nguyên A) trong huyết tương.

Những người có nhóm máu B có thể an toàn hiến tặng máu cho những người khác có cùng nhóm máu B, hoặc cho những người có nhóm máu AB. Ngoài ra, những người có máu B cũng có thể an toàn nhận truyền máu của những người mang nhóm máu O.

Nhóm máu O là nhóm máu phổ biến nhất.

Nhóm máu AB

Nhóm máu này không phổ biến. Nhóm máu AB được đặc trưng bởi có cả kháng nguyên A và B trên tế bào hồng cầu, và không có kháng thể trong huyết tương.

Những người có nhóm máu AB có thể chấp nhận máu từ bất cứ ai. Tuy nhiên, vì sự hiện diện của cả hai kháng nguyên trên tế bào hồng cầu loại AB, những người có nhóm máu AB chỉ có thể tặng máu cho những người có cùng nhóm máu AB với họ.

Nhóm máu O

Nhóm máu O là nhóm máu phổ biến nhất. Nhóm máu O không có kháng nguyên A cũng không có kháng nguyên B trên tế bào hồng cầu, nhưng lại có cả hai kháng thể A và B trong huyết tương.

Kết quả là, những người có nhóm máu O chỉ có thể nhận truyền máu từ những người có cùng nhóm máu O, vì các kháng thể trong huyết tương của nó sẽ tấn công các loại khác. Tuy nhiên, những người có nhóm máu O lại có thể hiến máu cho tất cả các nhóm máu khác, vì nhóm máu O hoàn toàn không có kháng nguyên thù địch trong hệ thống miễn dịch. Chính vì thế, những người mang nhóm máu O được gọi là "nhà tài trợ toàn cầu".

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn nhận nhầm nhóm máu?

Rất tồi tệ. Phản ứng truyền máu tán huyết cấp có thể xảy ra trong vòng 24 giờ sau khi truyền máu và thường xảy ra trong quá trình truyền máu. Bệnh nhân có thể cảm nhận được những phản ứng này. Họ có thể phàn nàn về cảm giác nóng tại chỗ truyền máu, cảm giác ớn lạnh, sốt, và đau ở lưng, hai bên sườn….

Những phản ứng cắt liên quan đến cắt đứt hầu hết các tán huyết mạch; các hồng cầu của máu truyền vào bị phá hủy bởi các kháng thể của người nhận trong khi chúng vẫn còn các mạch máu bên trong. Các phản ứng đồng loạt có thể gây sốc, số lượng lớn mô sản sinh ra do RBC (tế bào hồng cầu) bị vỡ nên không kiểm soát được khả năng đông máu.

Nguyên tắc truyền máu

Để đảm bảo an toàn trong truyền máu, phải tuân thủ nguyên tắc truyền máu sau:

Phải truyền cùng nhóm máu để tránh kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau gây ra hiện tượng các hồng cầu kết dính với nhau (ngưng kết).

Ngoài việc xác định nhóm máu của người cho và người nhận, cần làm phản ứng chéo: Trộn hồng cầu của người cho với huyết thanh của người nhận và ngược lại, trộn hồng cầu của người nhận với huyết thanh của người cho. Nếu không có hiện tượng ngưng kết hồng cầu thì máu đó mới được truyền cho người nhận.

Nếu truyền máu không hòa hợp thì có thể gây ra những tai biến nghiêm trọng cho người nhận máu, thậm chí gây ra tử vong sau vài ngày.

Tuy nhiên, trong những trường hợp cấp cứu cần truyền máu mà không có máu cùng nhóm, khi đó phải bắt buộc truyền khác nhóm thì bắt buộc phải tuân theo nguyên tắc tối thiểu: "Hồng cầu người cho không bị ngưng kết với huyết thanh người nhận", chỉ được truyền lượng máu ít (250ml) và truyền với tốc độ rất chậm. Như vậy, sơ đồ truyền máu có thể như sau:

Sơ đồ truyền máu.

 

Theo Khoa học TV/Vnreview
Bình luận
Tin mới
  • 28/01/2026

    Vụ 500 tấn hóa chất natri silicate ngâm ốc bươu, người ăn như 'bỏng hóa học'

    Sau vụ cơ quan chức năng ở TPHCM triệt phá đường dây dùng 500 tấn natri silicate sơ chế 3.000 tấn thịt ốc bươu trước khi đưa ra thị trường, nhiều người lo lắng về mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe khi lỡ ăn phải loại thực phẩm này.

  • 28/01/2026

    Nhu cầu dinh dưỡng đặc thù ở người bệnh ung thư gan

    Do đặc điểm bệnh lý ung thư gan liên quan trực tiếp đến chức năng gan – cơ quan chuyển hóa trung tâm – bệnh nhân ung thư gan có nhu cầu dinh dưỡng khác biệt so với người khỏe mạnh, đồng thời thay đổi tùy theo giai đoạn bệnh và tình trạng dinh dưỡng hiện tại…

  • 28/01/2026

    Hiểm họa từ thực phẩm ngâm "thủy tinh lỏng" Natri Silicate

    Thời gian gần đây, natri silicate bị lợi dụng nhờ đặc tính tạo màng và giữ nước để bảo quản thực phẩm. Khi ngâm thực phẩm vào dung dịch này, hóa chất thẩm thấu giúp tăng trọng lượng ảo, làm nguyên liệu trương nước và tạo vẻ ngoài bóng bẩy, tươi mới.

  • 28/01/2026

    Hen phế quản: Kiểm soát cơn hen, thở dễ dàng hơn

    Hen phế quản là một bệnh lý hô hấp mạn tính phổ biến, gây ra tình trạng viêm và co thắt đường thở, dẫn đến các triệu chứng như khó thở, khò khè, ho và cảm giác nặng ngực. Mặc dù không thể chữa khỏi hoàn toàn, nhưng với sự hiểu biết đúng đắn và các biện pháp kiểm soát hiệu quả, người bệnh có thể sống khỏe mạnh và giảm thiểu nguy cơ xảy ra các cơn hen cấp tính. Bài viết này sẽ cung cấp thông tin chi tiết về cách nhận biết, xử lý và kiểm soát hen phế quản.

  • 27/01/2026

    5 vị thuốc giúp ngủ ngon trong mùa đông

    Khi thời tiết lạnh, dương khí dễ bị tổn thương, huyết mạch lưu thông kém, tinh thần khó an định, từ đó sinh ra mất ngủ. Việc sử dụng các vị thuốc y học cổ truyền một cách hợp lý cũng là một cách hỗ trợ cải thiện giấc ngủ hiệu quả, an toàn.

  • 27/01/2026

    Những điều cần biết về virus Nipah

    Nipah là loại virus có tỷ lệ gây tử vong cao, chưa có vaccine và thuốc để điều trị. Virus Nipah được Tổ chức Y tế Thế giới xếp vào nhóm tác nhân gây bệnh nguy cơ cao.

  • 27/01/2026

    Hiểu đúng về natri silicate và nguy cơ đối với sức khỏe

    Vụ việc phát hiện ốc bươu được ngâm trong hóa chất công nghiệp natri silicate (thủy tinh lỏng) vừa bị cơ quan chức năng triệt phá đã làm dấy lên lo ngại lớn về an toàn thực phẩm. Natri silicate là chất gì, vì sao bị cấm trong chế biến thực phẩm và ăn phải có thể gây hại như thế nào cho sức khỏe? Hãy cùng Viện Y học ứng dụng Việt Nam tìm hiểu!

  • 27/01/2026

    Nhiễm khuẩn đường ruột do thực phẩm bẩn mùa lạnh

    Nhiễm khuẩn đường ruột là vấn đề sức khỏe phổ biến, nhất là trong mùa lạnh khi vi khuẩn dễ phát triển do môi trường ẩm ướt và thực phẩm không được bảo quản tốt.Thực phẩm ôi thiu, nước ô nhiễm hoặc thói quen ăn uống kém vệ sinh làm tăng nguy cơ ngộ độc thực phẩm và tiêu chảy. Việc hiểu rõ nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng ngừa nhiễm khuẩn đường ruột trong thời tiết giao mùa là rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe. Bài viết này sẽ đi sâu vào mối nguy hiểm, các triệu chứng cần lưu ý và các biện pháp phòng tránh hiệu quả.

Xem thêm