Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Hiểu đúng về bệnh Histêri

Histêri được xem như là bệnh tâm trí với biểu hiện là có nỗi sợ hãi hay cảm xúc quá mức; người bệnh tưởng tượng một bộ phận nào đó của cơ thể bị bệnh và không thể tự kiểm soát.

Tên gốc Hi lạp là hysterikos, một bệnh chỉ gập ở phụ nữ và cho là có nguyên nhân từ tử cung.

Vài nét về lịch sử bệnh

Hysterikos - tiếng Hy Lạp (Ảnh: aefraser)

Đến thời Hippocrate được gọi là Hysteria và cũng cho là do máu vận chuyển không đều từ tử cung đến não. Từ giữa thế kỷ 19 bệnh được nói đến nhiều với tên gọi là bệnh histêri ở phụ nữ mà ngày nay nhiều người cho là do tình dục không thỏa mãn. Vì thế“cách chữa trị” đã có thời dùng máy rung (vibrator) hay phun nước để tạo khoái cực.

Giới y học phương Tây ngày nay không sử dụng tên bệnh  histêri phụ nữ nữa nhưng trong kỷ nguyên Victoria thì tên bệnh này là một chẩn đoán khá phổ biến và bao gồm một loạt triệu chứng như suy nhược, lo lắng, nặng bụng, khó ngủ, giữ nước, chuột rút, thở gấp, dễ kích thích, ăn không ngon, hết ham muốn và có xu hướng gây ra rối loạn.

Khi đã được chẩn đoán là bị histêri phụ nữ thì được xoa bóp vùng tiểu khung tức là thầy thuốc dùng tay kích thích cơ quan sinh dục phụ nữ để đến mức “có cơn histêri kịch phát ” mà ngày nay gọi là khoái cực.

Từ năm 1859 có thầy thuốc cho rằng có đến 1 phần tư phụ nữ bị histêri và với trên 75 trang mô tả các triệu chứng thì hầu như mọi bệnh đều có thể phù hợp để chẩn đoán là histêri. Điều đó chỉ có lợi cho thầy thuốc vì bệnh nhân thì không nặng đến mức tử vong mà lại cần điều trị thường xuyên.

Vấn đề duy nhất là thầy thuốc không thích thú gì với liệu pháp xoa bóp kéo dài  giờ để bệnh nhân đạt đến khoái cực, vì vậy cần phải sáng chế ra các máy móc và máy rung chạy điện đã ra đời vào những năm 1870, đến 1918 thì đã có máy rất tiện dụng cho việc dùng tại nhà.   

Đầu thế kỷ 20 khi môn phân tâm học do Sigmund Freud (một thầy thuốc người Áo) đề xướng trở nên nổi tiếng thì hysteria được chữa trị bằng phương pháp riêng. Ngay từ đầu thế kỷ 20, số trường hợp được chẩn đoán là histêri đã giảm rõ rệt, do nhiều lí do nhưng nhiều thầy thuốc cho rằng do mọi người đã có hiểu biết nhiều hơn về bệnh chuyển dạng (conversion disorder). Nhiều trường hợp histêri đã được Freud sửa lại là rối nhiễu lo hãi. Ngày nay người ta thừa nhận nhiều biểu hiện của histêri được coi là bệnh tinh thần phân lập, bệnh chuyển dạng và bệnh lo hãi.     

Và cũng cần nói thêm rằng sự hiểu biết về histêri có tiến bộ là nhờ công trình nghiên cứu của nhà thần kinh học người Pháp tên là Jean-Martin Charcot. 

Về bệnh sinh

400 năm trước Công nguyên, Hippocrates xác định histêri  là “bệnh của tử cung, có thể chữa trị được bằng vận động và xoa bóp”. Plato nêu lên giả thuyết là bệnh đã sinh ra do tử cung đi lang thang khắp cơ thể phụ nữ và sẽ làm cho bệnh nhân ngạt thở mà chết khi nó di chuyển đến ngực, vì thế tên bệnh theo tiếng Hi Lạp có nghĩa là tử cung.

Một thầy thuốc có tiếng tăm ở thế kỷ thứ hai là Galen viết rằng histêri là bệnh do thiếu thốn về tình dục, hay gặp ở những phụ nữ chưa có chồng, các nữ tu sĩ, các thiếu phụ góa chồng và đôi khi cả phụ nữ đã có chồng. Cách điều trị ở thời trung cổ và thời kỳ phục hưng là tạo cơ hội để có quan hệ tình dục nếu là phụ nữ đã kết hôn, hoặc cho kết hôn nếu chưa có chồng hoặc dùng nữ hộ sinh để xoa bóp vùng tiểu khung...   

Trong thế kỷ 19, một chủ đề được bàn luận nhiều, đó là tình dục là hành vi sinh sản hay hành vi để có khoái lạc. Mặc dầu là một hình ảnh thiêng liêng đương thời nhưng nữ hoàng Victoria nước Anh có rất nhiều con. Khi khả năng mắn đẻ giảm đi thì mục đích sinh sản của hành vi tình dục không còn là chính nữa; hầu hết quan niệm về tình dục nữ thời đó đều nhận định sai lầm rằng phụ nữ không có đòi hỏi tình dục và như thế thì phụ nữ có sinh hoạt tình dục chỉ để sinh sản. Nhận định ấy có thể dẫn đến nguy cơ số phụ nữ không được thỏa mãn về tình dục tăng lên và nhu cầu điều trị histêri cũng tăng theo.   

Bệnh cảnh và phương hướng điều trị

Bệnh chuyển dạng có nguồn gốc lịch sử là bệnh histêri, đã được Sigmund Freud mô tả và điều trị bằng phương pháp phân tâm học. Bệnh chuyển dạng có nhiều biểu hiện khác nhau và có thể do một stress tâm lý cấp tính khởi động mà cá thể không thể xử lý được. Sự suy giảm toàn bộ chức năng tâm lý đã làm cho não bị liệt một cách vô thức hay làm suy yếu chức năng cơ thể đến mức làm cho bệnh nhân không cảm nhận được tác động của stress này một lần nữa. Do đó stress tâm lý-xã hội có thể bị “chuyển hóa” thành triệu chứng thể chất. Người bệnh không hề biết về tiến trình này - một đặc trưng được gọi là sự thờ ơ hoàn toàn.   

Các biểu hiện thường giống như bệnh về thần kinh, bao gồm một hay nhiều triệu chứng và dấu hiệu sau đây: liệt một chi hay liệt toàn thân; suy giảm về thính lực hay thị lực; mất cảm giác; suy giảm hay mất khả năng ngôn ngữ; co giật do nguyên nhân tâm lý; tăng trương lực cơ do nguyên nhân tâm lý.

Việc chẩn đoán bệnh thường rất khó, cần tìm hiểu kỹ lịch sử và quan sát để loại trừ khả năng bệnh nhân giả vờ hay có nguyên nhân sinh học không phát hiện ra. Khám kỹ càng thực thể và thần kinh để phát hiện nguyên nhân thực thể có đủ để gây ra liệt không. Nếu không do nguyên nhân thực thể thì thì bệnh nhân cần được điều trị bằng liệu pháp hành vi - nhận thức để phá vỡ rào cản tâm lý và các chu kỳ hành vi làm cho tác nhân gây phát sinh.        

BS ĐÀO XUÂN DŨNG - Theo Khoa học TV/Tuổi trẻ Online
Bình luận
Tin mới
  • 21/02/2026

    Thảo mộc và trà – Sự hòa hợp tự nhiên trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe toàn diện

    Trong nhịp sống hiện đại đầy áp lực, xu hướng tìm về các giá trị tự nhiên như một giải pháp bền vững để chăm sóc sức khỏe. Trong số đó, sự kết hợp tinh tế giữa thảo mộc và trà không chỉ đơn thuần tạo nên một thức uống giải khát, mà còn là giải pháp "thanh nhiệt", cân bằng cơ thể dựa trên nền tảng y học cổ truyền.

  • 21/02/2026

    Giải đáp 10 câu hỏi cấp bách về thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh

    Ngày càng nhiều phụ nữ nhận thức rõ và quan tâm tìm hiểu về tầm quan trọng của thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh đối với cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.

  • 21/02/2026

    5 loại thực phẩm chức năng và thuốc cần tránh dùng chung với sữa

    Sữa là thức uống tốt cho sức khỏe của nhiều người, nhưng không phải lúc nào cũng là lựa chọn tốt nhất khi dùng một số loại thuốc và thực phẩm chức năng. Sữa chứa canxi, protein (casein) và chất béo có thể liên kết hoặc trung hòa một số chất dinh dưỡng và thuốc. Những tương tác này có thể làm chậm quá trình hấp thụ, giảm lượng chất bổ sung mà cơ thể có thể sử dụng hoặc làm thay đổi hiệu quả của thuốc.

  • 20/02/2026

    Nên ăn trứng luộc, trứng chần hay trứng ốp la để kiểm soát calo và giữ trọn dinh dưỡng?

    Cách chế biến trứng ảnh hưởng đến tổng lượng calo nạp vào và khả năng hấp thụ dưỡng chất của cơ thể. Vậy trứng luộc, trứng chần hay trứng ốp la tốt hơn cho sức khỏe?

  • 19/02/2026

    6 dấu hiệu nghi ngờ mắc u xơ tử cung

    U xơ tử cung có thể gây nhiều biến chứng, vì vậy chị em không nên chủ quan với những dấu hiệu nghi ngờ. Cần đi khám chuyên khoa sớm để được chẩn đoán chính xác và điều trị can thiệp kịp thời.

  • 19/02/2026

    Phục hồi làn da sau những buổi trang điểm tiệc tùng

    Năm mới thường đi kèm với tiệc tùng và gặp gỡ, thức khuya, dùng đồ uống có cồn và trang điểm liên tục. Những thay đổi này có thể khiến da bị khô, xỉn màu, nổi mụn, bít tắc lỗ chân lông và lão hóa sớm. Để phục hồi làn da căng mọng, rạng rỡ sau những dịp này, việc xây dựng một quy trình chăm sóc da khoa học và chuyên sâu là điều vô cùng cần thiết. Bài viết này sẽ cung cấp các phương pháp phục hồi da hiệu quả, giúp làn da của bạn luôn khỏe mạnh và tươi trẻ.

  • 18/02/2026

    Bật mí những cách cải thiện miễn dịch đơn giản ngay tại nhà

    Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và đồ uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.

  • 18/02/2026

    9 tác hại khi lười tập thể dục

    Không tập thể dục hay tập không đủ có thể gây ra nhiều tác dụng phụ cho cơ thể, bao gồm tăng cân, giảm mức năng lượng và tăng nguy cơ mắc các bệnh lý mạn tính...

Xem thêm