Ăn sẽ thúc đẩy vận động cơ quan:
Nếu như truyền dịch, bạn chỉ cần nằm im một chỗ và dòng dịch chảy thẳng vào hệ tuần hoàn. Và do đó, truyền dịch không có tác dụng thúc đẩy vận động cơ thể. Điều này là bất lợi.
Trái với truyền dịch, việc ăn uống buộc lòng bạn phải vận động. Bạn không nên nghĩ là ăn chỉ có ngồi một chỗ, việc ăn cũng cần những vận động khá phức tạp. Để đưa thức ăn xuống dạ dày, trước hết, bạn cần phải nhai. Nhai là hoạt động của các cơ nhai vùng miệng, các cơ này hoạt động sẽ vận động toàn bộ cơ mặt. Đồng thời, cơ nhai hoạt động thúc đẩy hoạt động của hệ thống tuyến tiết dịch tại vùng miệng gồm tuyến nước bọt, tuyến tiết dịch từ hầu họng.
Việc ăn cũng cần những vận động khá phức tạp
Sau đó thức ăn được tống đẩy xuống dạ dày. Để đưa được thức ăn di chuyển, cơ vùng hầu họng phải vận động, cơ thực quản phải co bóp, cơ dạ dày phải nhu động, cơ thành ruột phải lắc lư. Cứ thế toàn bộ cơ của hệ thống tiêu hóa vận động nối tiếp. Điều này vô cùng có lợi bởi nó thúc đẩy hầu như toàn bộ cơ nằm ở sâu bên trong cơ thể hoạt động, một điều mà không một biện pháp điều trị hoặc truyền dịch nào có thể đạt được. Vận động được tức là sức lực phục hồi được.
Ăn thúc đẩy thải độc kết tụ:
Nếu như bạn truyền dịch, bạn chỉ tiếp nhận dịch thụ động, sau đó thải chất độc hòa tan ra khỏi máu bằng cách tạo ra nước tiểu. Nhưng những mảng chất độc tụ kết trong ruột (vốn là nguồn cơn nhiễm độc vào máu) sẽ không thải được ra ngoài theo phương pháp này.
Nếu bạn ăn vào, bạn sẽ làm hệ tiêu hóa hoạt động
Nhưng nếu bạn ăn vào, bạn sẽ làm hệ tiêu hóa hoạt động. Bạn chủ động được việc này. Thức ăn vào buộc hệ tiêu hóa phải tiết dịch vào trong lòng ruột, một lần ruột như được rửa trôi các mảng tụ kết. Men tiêu hóa của ruột tiết ra, tiêu hóa thức ăn những cũng phân rã luôn các chất tụ kết trong lòng ruột. Thành ruột co bóp làm tống đẩy chất thải ra ngoài.
Mặt khác, trong quá trình can thiệp điều trị, nhiều người bệnh buộc lòng phải nằm bất động một chỗ trong một thời gian dài như những bệnh nhân mổ dạ dày, ruột, mổ thận, mổ tim, mổ phổi. Những bệnh nhân sẽ bị lắng đọng vi khuẩn có hại. Khi ăn vào, ruột cũng thải luôn những vi khuẩn có hại ra ngoài, tránh làm tổn thương thêm cơ thể.
Ăn thúc đẩy mồ hôi:
Nếu như truyền dịch, bạn chỉ nằm im và chờ đợi dịch phân bố tới da, từ đó mới có tác dụng vào các tuyến mồ hôi. Nhưng truyền dịch lại không thể nào làm vận động cơ tuyến mồ hôi để thải mồ hôi ra ngoài.
Trái với truyền dịch, ăn vào, dù ăn ít hay ăn nhiều, đều thúc đẩy tuyến mồ hôi dưới da hoạt động. Đó là vì ăn đã kích hoạt hệ thống thần kinh giao cảm hoạt động. Hệ thống thần kinh giao cảm có tác động không đặc hiệu, chúng tác động lên nhiều cơ quan, trong đó có tuyến mồ hôi ngoài da. Hệ thống này làm co bóp cơ ống tuyến mồ hôi, tống đẩy mồ hôi ra khỏi tuyến, làm hoạt hóa tế bào tuyến, làm tuyến tiết ra nhiều dịch mồ hôi.
Ăn kích hoạt hệ thống thần kinh giao cảm
Việc ra được mồ hôi với người ốm là rất có lợi bởi mồ hôi chứa nhiều mầm bệnh từ ngoài xâm nhập, trong đó có vi khuẩn, virút. Nếu như thải được mồ hôi ra ngoài rồi chúng ta lau đi thì vi khuẩn và virút cũng theo đó mà được lau đi theo. Lại thêm việc trong mồ hôi có một ít chất thải của cơ thể nên việc ra mồ hôi đã một lần nữa giúp cơ thể thải độc được nhiều hơn. Thải được độc là cơ thể người bệnh lại bớt ốm.
Ăn thúc đẩy hệ tim mạch hoạt động:
Nếu như truyền dịch, bạn chỉ được nằm im, nhỏ từng giọt dịch với tốc độ cho phép vào trong lòng mạch. Dịch truyền vào không có giá trị kích thích tim mạch hoạt động về cả cường độ và tốc độ.
Trái với truyền dịch, ăn làm kích thích tim mạch tăng hoạt động rõ nét. Đó là bởi khi ăn vào, chúng ta phải nuốt. Nuốt làm co bóp cơ thực quản. Thành của thực quản nằm rất gần tim. Mỗi khi thực quản co bóp, chúng chạm vào thành sau của tim ngay gần đó. Thành sau của tim có chứa nút xoang, vốn là một nút khởi tạo nhịp tim. Nên ăn vào vô hình trung đã trực tiếp kích tim hoạt động nhanh hơn va mạnh hơn.
Ăn làm kích thích tim mạch tăng hoạt động rõ nét
Một cơ chế khác là ăn kích hoạt hệ thần kinh giao cảm. Hệ thần kinh giao cảm vốn là hệ thần kinh làm tăng nhịp tim và huyết áp. Tim hoạt động nhanh hơn, mạnh hơn thì máu cũng theo đó mà lưu thông nhiều hơn, tốt hơn, cơ thể sẽ phục hồi nhanh hơn.
Nhưng cái hay của việc kích thích này ở chỗ, sự kích thích chỉ vừa đủ nhẹ chỉ để làm tăng lên một chút nhịp tim, một chút sức co bóp cơ tim phù hợp với việc hồi phục mà không làm tăng lên quá cao gây mệt cho người bệnh.
Ăn thúc đẩy vi tuần hoàn ngoại biên:
Nếu như truyền dịch, dịch chỉ đi được vào trong lòng mạch, thế là xong. Dịch truyền không có tác động vào hệ thống vi tuần hoàn.
Trái với truyền dịch, ăn sẽ thúc đẩy vi tuần hoàn ngoại biên. Vi tuần hoàn là tuần hoàn tại những vị trí nhỏ, những mạch máu nhỏ bao gồm tiểu động mạch, mao mạch và tiểu tĩnh mạch. Hệ thống vi tuần hoàn là hệ thống cung cấp máu trực tiếp cho mô và cơ quan. Truyền dịch là tiếp nhận dịch thụ động, không tác động suy chuyển gì tới vi tuần hoàn.
Trái với truyền dịch, ăn làm tăng tốc vi tuần hoàn ngoại biên. Ăn kích hoạt hệ thống thần kinh giao cảm, làm giãn nở cơ thắt tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch. Nhờ vào sự giãn nở này, máu được tràn về tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch nhiều hơn, máu đi qua vi tuần hoàn nhiều hơn, mô, tế bào được nuôi dưỡng tốt hơn. Do đó, vết thương ngoài da của người bệnh được phục hồi tốt hơn.
So sánh những bệnh nhân nhập viện do phải can thiệp mổ xẻ. Nếu một người yếu ớt, không thể ăn được, chỉ trông chờ vào truyền dịch, vết mổ của họ sẽ lâu liền hơn. Nhưng một người khác cũng thực hiện cuộc mổ tương tự, nếu họ ăn được sớm ngày nào, vết mổ nhanh khô hơn và sự liền vết thương cũng tốt hơn ngày đó. Đó là do vi tuần hoàn tại vết thương được khơi thông.
Ăn làm tăng chuyển hóa:
Truyền dịch chỉ tiếp nhận chất dinh dưỡng thụ động. Chất dinh dưỡng đi vào máu nhưng có được sử dụng trong tế bào hay không là một chuyện khác. Truyền dịch không tác động vào khâu cuối cùng này.
Trái với truyền dịch, ăn làm hoạt hóa hệ thần kinh giao cảm. Hệ thần kinh giao cảm có nhiều chức năng, một trong các chức năng quan trọng đó là tăng chuyển hóa tế bào, mà tế bào toàn cơ thể. Từng tế bào sẽ tăng chuyển hóa, tăng tạo ra năng lượng. Năng lượng là phần cốt lõi của sự sống, là phần thiết yếu nhất để người ốm có thể vực dậy sức khỏe. Tốc độ hồi phục sẽ tỉ lệ thuận với mức độ năng lượng thu được. Càng ăn sớm, cơ thể người bệnh càng tăng chuyển hóa sớm, thể chất của họ càng khỏe. Càng ăn sớm, biến chứng vết mổ càng thu giảm. Càng ăn sớm, họ càng được sớm xuất viện.
Tóm lại, nếu ăn được, cơ thể của người bệnh sẽ phục hồi nhanh hơn người không ăn được, thực tình cũng là điều hết sức dễ hiểu
Thời điểm giao mùa, khi nhiệt độ và độ ẩm không khí thay đổi liên tục, là giai đoạn virus cúm hoạt động mạnh nhất trong năm. Đây cũng là lúc số ca mắc cúm mùa tại các cơ sở y tế tăng cao, đặc biệt ở trẻ nhỏ, người cao tuổi và người có bệnh nền.
Mùa đông không chỉ mang lại cảm giác se lạnh mà còn tiềm ẩn những nguy cơ đối với sức khỏe tim mạch. Nhiệt độ giảm thấp có thể làm tăng huyết áp, gia tăng nguy cơ các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim hay đột quỵ. Bài viết này sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về bệnh tim mạch, các dấu hiệu cảnh báo và những biện pháp phòng ngừa để giữ cho trái tim luôn khỏe mạnh.
Một nghiên cứu mới đã phát hiện mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nhiều các loại quả mọng (như dâu tây, việt quất, mâm xôi...) và quá trình lão hóa lành mạnh hơn. Cùng tìm hiểu về vai trò của quả mọng với quá trình lão hóa ở người cao tuổi qua bài viết sau!
Nhiều đợt khảo sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản tại Mỹ, dựa trên số liệu kiểm nghiệm của cơ quan nông nghiệp nước này, cho thấy có ba loại trái cây quen thuộc thường xuyên đứng đầu danh sách phát hiện nhiều dư lượng hóa chất nông nghiệp bao gồm: dâu tây, nho và táo.
Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.
Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.
Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.
Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.