Nếu người bệnh cơ xương khớp được ví như “cỗ máy” dự báo thời tiết, thì với người viêm mũi dị ứng cũng không kém cạnh, khi tình trạng nhảy mũi, ngứa mũi diễn ra liên tục, báo hiệu một mùa mới lại đến.
BS.CK2 Vũ Hải Long - Trưởng khoa Tai Mũi Họng - Bệnh viện Nhân dân 115 dẫn chứng, câu nói “lai nhai như tai mũi họng” thường để chỉ những căn bệnh như viêm mũi dị ứng dai dẳng, thường xuyên tái phát. Người bệnh viêm mũi dị ứng rất nhạy cảm với thời tiết. Khi giao mùa, nhiệt độ - độ ẩm thay đổi cùng với nồng độ phấn hoa, nấm mốc sản sinh nhanh chóng là tác nhân gây kích thích, bùng phát các triệu chứng viêm mũi dị ứng.
Tình trạng này quấy nhiễu cuộc sống và sức khỏe của người bệnh liên tục. Nghiên cứu đã chỉ ra, triệu chứng viêm mũi dị ứng gây phiền toái cho 93% bệnh nhân vào ban ngày và 47% bệnh nhân vào ban đêm. Và có đến 91,8% người bệnh viêm mũi dị ứng bị ảnh hưởng chất lượng cuộc sống, không chỉ gây thay đổi về khí sắc, giấc ngủ, mà còn tác động đến sự tập trung, khả năng làm việc, học tập.

Viêm mũi dị ứng là phản ứng dị ứng của mũi với chất dị ứng.
(Ảnh minh họa)
Chuyên gia nhìn nhận, khó khăn lớn nhất trong điều trị viêm mũi dị ứng chính là sự chủ quan trong nhận thức về căn bệnh, nhìn nhận các triệu chứng chưa đầy đủ, sử dụng thuốc chưa hợp lý và việc giáo dục phòng ngừa chưa tốt.
Thực tế, trong quá trình thăm khám BS.CK2 Vũ Hải Long ghi nhận, nhiều bệnh nhân có triệu chứng của viêm mũi dị ứng như thường xuyên hắt hơi, sổ mũi, nghẹt mũi, ngứa mũi và ngứa lên mặt, mắt nhưng nhầm lẫn với cảm. Sau khi uống thuốc trong thời gian dài không cải thiện, đi khám mới phát hiện viêm mũi dị ứng.
BS.CK2 Vũ Hải Long lưu ý: “Viêm mũi dị ứng khác với cảm cúm, cảm lạnh ở điểm không gây sốt, đau nhức mình và thời gian gặp các triệu chứng có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, thậm chí là diễn ra dai dẳng quanh năm. Điều này khác với cảm lạnh, cảm cúm, thường chỉ kéo dài từ 7-10 ngày là có thể khỏi bệnh”.

Triệu chứng của viêm mũi dị ứng ảnh hưởng đến công việc, học tập.
(Ảnh minh họa)
Chuyên gia khuyến cáo, giải pháp cần thiết để điều trị viêm mũi dị ứng là hạn chế sự tiếp xúc của dị nguyên với người bệnh. Tuy nhiên, phương pháp này rất khó để đáp ứng, vì nhiều bệnh nhân không biết họ thực sự dị ứng với yếu tố nào. Vì vậy, đa phần các phương pháp điều trị hiện nay là nội khoa, với các thuốc như các thuốc kháng histamin, corticoid xịt mũi, cromones tại chỗ, thuốc thông mũi co mạch, kháng cholinergic, kháng leukotriene.
Trong đó, thuốc kháng histamin đường uống thế hệ 2, điển hình như Fexofenadin trở thành lựa chọn đầu tay của các bác sĩ cho tất cả các dạng viêm mũi dị ứng từ nhẹ đến trung bình, nhờ hiệu quả “dập tắt” tất cả các triệu chứng khó chịu của căn bệnh này mà lại không gây ra tác dụng phụ buồn ngủ, khô miệng, chóng mặt, buồn nôn như thế hệ cũ.
BS.CK2 Vũ Hải Long nhấn mạnh, việc lựa chọn một loại thuốc để sử dụng là rất quan trọng bởi phải đảm bảo thuốc trị đúng bệnh, dễ tuân thủ điều trị (chẳng hạn như thuốc sử dụng ít lần trong ngày sẽ rất lý tưởng để bệnh nhân tránh quên thuốc). Đồng thời đem lại hiệu quả, giải quyết được các triệu chứng và an toàn, ít tác dụng phụ. Điều quan trọng nhất chính là chất lượng của thuốc và đảm bảo về mặt kinh tế, bởi viêm mũi dị ứng dai dẳng, cần điều trị lâu dài cho người bệnh.


Đeo khẩu trang thường xuyên nếu bạn ra ngoài hoặc làm trong môi trường ô nhiễm, nhiều bụi.
(Ảnh minh họa)
Đối với viêm mũi dị ứng, việc cải thiện môi trường sống rất quan trọng, giúp hỗ trợ cải thiện các triệu chứng khó chịu. BS.CK2 Vũ Hải Long chia sẻ một số lưu ý bệnh nhân cần nhớ:
Về chế độ sinh hoạt
Về chế độ dinh dưỡng
Cuối cùng, chuyên gia khuyến cáo, bệnh nhân có thể trang bị sẵn nhóm thuốc kháng histamin thế hệ mới như Fexofenadin (Telfor) tại nhà với các trường hợp viêm mũi dị ứng mức độ nhẹ. Với các trường hợp viêm mũi dị ứng nặng, cần có sự thăm khám và tư vấn của bác sĩ.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Bỏ túi bí quyết ngừa bệnh viêm mũi dị ứng khi thu tới, đông về.
Tỏi và mật ong là hai thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của người Việt. Ngoài giá trị dinh dưỡng, chúng còn được nghiên cứu về một số tác dụng sinh học có lợi cho sức khỏe khi sử dụng hợp lý.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Thời gian gần đây, trào lưu “ăn chống viêm”, “thải độc” hay “tăng miễn dịch cấp tốc” với những lời khuyên “bỏ sữa ngay để trị mụn”, “gluten (ngũ cốc) là thủ phạm gây viêm não” trở nên phổ biến trên mạng xã hội.
Việc có những ngày sinh hoạt đều đặn có thể giúp bạn cảm thấy ổn định hơn khi cuộc sống trở nên căng thẳng. Nhưng một số thói quen nhỏ, thường bị bỏ qua, lại có thể gây hại cho sức khỏe của bạn, dẫn đến căng thẳng về thể chất hoặc tinh thần theo thời gian.
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.