Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Dinh dưỡng ngừa còi xương cho trẻ

Suy dinh dưỡng là thuật ngữ để chỉ tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết, thường gặp nhất là sự thiếu hụt protein, vitamin và các chất khoáng. Hậu quả của việc cơ thể không nhận đủ chất dinh dưỡng là sự suy giảm hoạt động của các cơ quan. Điều này đặc biệt cần lưu ý ở trẻ em, nhất là vào khoảng thời gian trẻ có nhu cầu dinh dưỡng cao từ 6-24 tháng tuổi.

Suy dinh dưỡng ở trẻ em thường gây chậm tăng trưởng và hạn chế khả năng hoạt động thể lực. Ở mức độ nặng hơn, suy dinh dưỡng còn ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ, trí thông minh, khả năng giao tiếp và tăng khả năng mắc nhiều bệnh tật ở trẻ. Đánh giá một trẻ suy dinh dưỡng dựa vào các chỉ số: Cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao…

Suy dinh dưỡng ở người lớn thường phổ biến ở người cao tuổi, hoặc người trưởng thành có các nguyên nhân làm hạn chế cung cấp thức ăn cho cơ thể như bị bệnh mạn tính, mắc chứng biếng ăn. Người lớn bị suy dinh dưỡng sẽ gây ra các biến chứng: hệ miễn dịch suy yếu, gia tăng khả năng mắc nhiều bệnh lý khác nhau, nhất là các bệnh lý lây nhiễm; hạn chế vận động, dễ té ngã; cần người chăm sóc.

Dấu hiệu nhận biết trẻ bị còi xương ở trẻ.

Dấu hiệu nhận biết trẻ bị còi xương ở trẻ.

Phân biệt còi xương và suy dinh dưỡng

Trên thực tế các bà mẹ thường hay nhầm lẫn còi xương và suy dinh dưỡng là một. Tuy nhiên hai khái niệm này là hoàn toàn khác nhau.

Suy dinh dưỡng thường được hiểu ở đây là thiếu dinh dưỡng, là tình trạng cơ thể thiếu protein - năng lượng và kèm theo thiếu hụt vi chất dinh dưỡng trạng. Trẻ thiếu cân nặng hoặc chiều cao so với trẻ cùng tuổi, cùng giới (chuẩn tăng trưởng của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2006 với trẻ dưới 5 tuổi).

Còi xương là bệnh loạn dưỡng xương do thiếu vitamin D hay rối loạn chuyển hóa vitamin D, ảnh hưởng đến chuyển hóa, hấp thu calci và phospho trong quá trình tạo xương. Còi xương không những chỉ gặp với trẻ có thân hình còi cọc, chiều cao thấp so với tuổi, hoặc cân nặng thấp so với tuổi mà còn gặp nhiều ở trẻ bụ bẫm.

Còi xương do thiếu vitamin D là bệnh hay gặp ở trẻ em, nếu không điều trị kịp thời có thể để lại các hậu quả không mong muốn cho trẻ như biến dạng ở xương, răng, ảnh hưởng đến phát triển tầm vóc.

Bệnh còi xương là phổ biến nhất ở trẻ em từ 6 - 36 tháng tuổi vì đây là lứa tuổi mà hệ xương đang phát triển mạnh. Đây là thời điểm cơ thể trẻ cần nhiều calci và phospho nhất để củng cố và phát triển bộ xương.

Nước ta tuy là nước có khí hậu nhiệt đới, có nhiều ánh sáng mặt trời nhưng còi xương vẫn là một bệnh phổ biến. Theo nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng năm 2015, 58,6% trẻ em 6 - 36 tháng tuổi đến khám tại Khoa Khám tư vấn dinh dưỡng số 2 - Viện Dinh dưỡng được chẩn đoán còi xương theo xét nghiệm vitamin D.

Chế độ dinh dưỡng cho trẻ bị còi xương

Bổ sung vitamin D

Theo Khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng năm 2016, nhu cầu vitamin D cần bổ sung hàng ngày cho từng lứa tuổi như sau: Trẻ dưới 12 tháng tuổi: 400UI vitamin D3/ngày. Trẻ lớn hơn và người trưởng thành 600UI  vitamin D3/ngày. Người từ 50 tuổi trở lên, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, nhu cầu cao hơn: 800UI vtiamtin D3/ngày.

Tắm nắng

Tổng hợp vitamin D từ da là một nguồn quan trọng để bổ sung vitamin D. Lượng vitamin D được tổng hợp bởi da phụ thuộc vào một số yếu tố: tuổi, diện tích da tiếp xúc, thời gian tiếp xúc, yếu tố địa lý có liên quan (ví dụ: vĩ độ, mùa, thời gian trong ngày, bóng râm, và ô nhiễm không khí), có sử dụng kem chống nắng hay không và màu da của đối tượng.

Tiếp xúc của tay và chân có thể thu được khoảng 3.000 IU vitamin D3. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh, có thể yêu cầu tiếp xúc với ánh nắng mặt trời ít hơn người lớn để sản xuất nồng độ vitamin D đầy đủ vì diện tích bề mặt lớn hơn tỷ lệ khối lượng và tăng khả năng sản xuất vitamin D hơn người lớn tuổi.

Khi cho trẻ tắm nắng, nên tắm vào sáng sớm, trước 8h sáng, khi tắm nên che mắt cho trẻ để ánh nắng mặt trời không gây hại mắt, không cho trẻ tắm nắng lúc trời nắng gay gắt, để tránh nguy cơ ung thư da…

Lựa chọn thực phẩm giàu vitamin D, calci

Thực phẩm giàu calci: sữa và các chế phẩm sữa (sữa chua, phomat) là thức ăn giàu calci. Cứ 250ml sữa hay 200g sữa chua cho từ 130 - 300mg calci (100g bánh mỳ, trái cây, rau xanh hay thịt chỉ cho từ 10 - 15mg calci).

Các loại rau họ đậu có trên 60mg calci/100g, trong đậu tương có lượng calci cao hơn khoảng 165mg/100g.

Ngoài ra, các thực phẩm giàu calci có tôm, cua, cá, đặc biệt là khi kho nhừ ăn cả xương. Đây là nguồn calci hữu cơ tốt, cơ thể dễ hấp thu và sử dụng được.

Có 3 nguồn cung cấp vitamin D chính: tắm nắng - ánh sáng mặt trời, thực phẩm bổ sung vitamin D và các chế phẩm thuốc vitamin D.

Trong tự nhiên rất ít thực phẩm giàu vitamin D. Các thực phẩm giàu vitamin D gồm một số loại dầu gan cá, trứng gà được nuôi bổ sung vitamin D, dầu tăng cường vitamin D hoặc các thực phẩm có bổ sung vitamin D. Ngoài ra một số loại cá giàu béo như cá hồi cũng là nguồn cung cấp vitamin D.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Vì sao bé bụ bẫm vẫn bị còi xương?

Theo Sức Khỏe & Đời Sống
Bình luận
Tin mới
  • 05/01/2026

    Bệnh nhân ung thư gặp nhiều khó khăn trong thời tiết lạnh

    Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.

  • 04/01/2026

    Uống sữa buổi tối sai cách: Tưởng giúp con cao lớn nhưng lại là sai lầm số 1 gây hại răng

    Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.

  • 04/01/2026

    Tác động của thay đổi thời tiết đến khớp và cách chăm sóc

    Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.

  • 03/01/2026

    Hàm lượng dinh dưỡng của rau củ trong bữa ăn thường ngày

    Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.

  • 03/01/2026

    Các vấn đề về tim mạch trong mùa đông

    Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.

  • 02/01/2026

    Uống rượu ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?

    Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.

  • 01/01/2026

    Rau cải xoong có tác dụng gì?

    Cải xoong là loại rau mùa đông, tuy nhiên, ít ai biết rằng loại rau này lại được mệnh danh là một 'siêu thực phẩm'. Vậy thực sự cải xoong có tác dụng gì?

  • 01/01/2026

    Viêm tủy xương và cách phòng chống trong thời tiết lạnh

    Viêm tủy xương là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính ở xương, bao gồm tủy xương và các mô mềm xung quanh. Bệnh thường do các loại vi khuẩn như tụ cầu vàng hoặc liên cầu gây ra. Những vi khuẩn này xâm nhập vào xương thông qua đường máu, sau khi cơ thể bị một trong các tình trạng nhiễm khuẩn tại một vùng nào đó.

Xem thêm