Dị tật Chiari là những khiếm khuyết về cấu trúc ở tiểu não. Đó là phần não có chức năng kiểm soát sự cân bằng. Một số người mắc dị tật Chiari có thể không có triệu chứng. Số còn lại có thể có các triệu chứng như:
Dị tật Chiari ảnh hưởng đến nữ giới nhiều hơn nam giới.
Các nhà khoa học từng tin rằng dị tật Chiari chỉ xảy ra ở 1 trên 1.000 ca sinh. Nhưng việc áp dụng phổ biến các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ đã cho thấy tình trạng này có thể phổ biến hơn nhiều.
Tuy nhiên, việc ước tính chính xác tỷ lệ rất khó khăn. Bởi một số trẻ sinh ra mắc bệnh này không bao giờ phát triển các triệu chứng hoặc không phát triển các triệu chứng cho đến khi chúng đến tuổi thiếu niên hoặc trưởng thành.
Nguyên nhân gây ra dị tật Chiari
Dị tật Chiari thường do khiếm khuyết cấu trúc trong não và tủy sống. Những khiếm khuyết này phát triển trong quá trình phát triển của thai nhi. Do đột biến gen hoặc chế độ ăn uống của người mẹ thiếu một số chất dinh dưỡng nhất định, khoảng trống xương lõm vào ở đáy hộp sọ nhỏ bất thường. Kết quả là hình thành áp lực tại tiểu não. Điều này ngăn chặn dòng chảy của dịch não tủy. Đây là một loại chất lỏng bao quanh và bảo vệ não và tủy sống.
Hầu hết các dị tật Chiari xảy ra trong quá trình phát triển của thai nhi. Các trường hợp hình thành bệnh trong quá trình phát triển của trẻ thường hiếm gặp hơn. Điều này có thể xảy ra khi lượng dịch não tủy bị rút đi quá nhiều vì các nguyên nhân:
Đọc thêm tại bài viết: Bảo vệ trẻ khỏi nguy cơ dị tật ống thần kinh
Các dạng dị tật Chiari
Có bốn dạng dị tật Chiari
Loại I. Đây là dạng thường gặp nhất ở trẻ em. Ở dạng này, phần dưới của tiểu não, không phải thân não, kéo dài vào một lỗ ở đáy hộp sọ. Lỗ mở được gọi là lỗ lớn xương chẩm. Bình thường chỉ có tủy sống đi qua lỗ này. Loại I là dạng dị tật Chiari duy nhất có thể mắc phải.
Loại II. Dạng này thường chỉ thấy ở trẻ em sinh ra bị tật nứt đốt sống. Tật nứt đốt sống là sự phát triển không hoàn chỉnh của tủy sống và/hoặc lớp vỏ bảo vệ. Loại II còn được gọi là dị tật Chiari "cổ điển" hoặc dị tật Arnold-Chiari. Trong dị tật Chiari loại II, cả tiểu não và thân não đều kéo dài vào lỗ chẩm.
Loại III. Đây là dạng dị tật Chiari nghiêm trọng nhất, liên quan đến sự nhô ra hoặc thoát vị của tiểu não và thân não qua lỗ chẩm và vào tủy sống. Dạng này thường gây ra các khuyết tật thần kinh nghiêm trọng. Loại III là loại hiếm.
Loại IV. Dạng này liên quan đến tiểu não chưa hoàn chỉnh hoặc chưa phát triển. Nó đôi khi liên quan đến các phần tiếp xúc của hộp sọ và tủy sống. Loại IV là loại hiếm. Ngoài tật nứt đốt sống, các tình trạng khác đôi khi liên quan đến dị tật Chiari bao gồm:
Đọc thêm tại bài viết: Não úng thủy: triệu chứng gặp phải ở các lứa tuổi
Các triệu chứng của dị tật Chiari
Dị tật Chiari có liên quan đến một loạt các triệu chứng khác nhau tùy theo loại.
Dị tật Chiari loại I thường không gây ra triệu chứng. Hầu hết những người mắc bệnh này thậm chí không biết rằng họ mắc bệnh trừ khi được phát hiện tình cờ trong quá trình chẩn đoán hình ảnh. Nhưng nếu dị tật nghiêm trọng, loại I có thể gây ra các triệu chứng như:
Hầu hết trẻ sinh ra bị dị tật Chiari loại II đều bị não úng thủy. Trẻ lớn hơn mắc dị tật Chiari loại II có thể bị đau đầu liên quan đến:
Một số triệu chứng phổ biến nhất có liên quan đến các vấn đề về chức năng của dây thần kinh trong thân não. Bao gồm:
Điều trị dị tật Chiari
Nếu nghi ngờ dị tật Chiari, bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra sức khỏe tổng thể. Đồng thời, các chức năng chịu sự kiểm soát của tiểu não và tủy sống cũng được kiểm tra. Các chức năng này bao gồm:
Bác sỹ có thể yêu cầu xét nghiệm chẩn đoán, chẳng hạn như:
Chụp cộng hưởng từ là kĩ thuật thường được sử dụng nhất để chẩn đoán dị tật Chiari.

Nếu dị tật Chiari không gây ra triệu chứng và không ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày thì không cần điều trị. Trong các trường hợp khác, thuốc có thể được sử dụng để kiểm soát các triệu chứng như đau.
Phẫu thuật là phương pháp điều trị duy nhất có thể khắc phục các khiếm khuyết chức năng hoặc ngăn chặn sự tiến triển của tổn thương hệ thần kinh trung ương.
Trong cả dị tật Chiari loại I và loại II, mục tiêu của phẫu thuật là:
Đọc thêm tại bài viết: Hiểu thêm về dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ
Ở người lớn và trẻ em bị dị tật Chiari, một số loại phẫu thuật có thể được thực hiện. Bao gồm:
Các thủ tục phẫu thuật bổ sung có thể cần thiết để điều chỉnh các tình trạng liên quan đến dị tật Chiari như não úng thủy. Phẫu thuật có thể giúp giảm đáng kể các triệu chứng và kéo dài thời gian thuyên giảm các triệu chứng.
Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây ra, lây truyền qua vết đốt của muỗi vằn Aedes, phổ biến tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó có Việt Nam.
Nhiều ý kiến cho rằng, ăn nhiều protein vào bữa sáng có thể giúp kiểm soát đường huyết. Thực tế thế nào?
Giai đoạn Trung học cơ sở (THCS) đánh dấu một cột mốc chuyển giao quan trọng trong cuộc đời của mỗi đứa trẻ. Đây là thời kỳ các em không còn là những đứa trẻ vô tư, nhưng cũng chưa thực sự trở thành người lớn. Chính sự lấp lửng này, kết hợp cùng những biến đổi mạnh mẽ từ bên trong lẫn bên ngoài, đã khiến nhiều học sinh rơi vào trạng thái chông chênh, dễ dẫn đến những bất ổn tinh thần nghiêm trọng. Việc thấu hiểu sâu sắc thế giới nội tâm của trẻ ở giai đoạn này là chìa khóa vàng giúp gia đình và nhà trường ngăn ngừa những hệ lụy về mặt sức khỏe tâm thần.
Khi mắc ung thư, có rất nhiều điều bạn có thể làm mỗi ngày để không chỉ vượt qua bệnh tật mà còn cảm thấy khỏe khoắn và tận hưởng cuộc sống một cách tốt nhất. Dù bạn đang trong quá trình điều trị hay đã hoàn tất, dưới đây là những lời khuyên giúp bạn tự chăm sóc bản thân.
Khám phá hàm lượng dinh dưỡng và lợi ích thiết thực từ quả bưởi giúp bảo vệ cơ thể toàn diện.
Các cơn đau nửa đầu có thể bao gồm giai đoạn tiền triệu với những dấu hiệu cảnh báo tinh tế cho thấy cơn đau nửa đầu sắp xảy ra. Khi bạn bắt đầu nhận ra các triệu chứng tiền triệu, bạn có thể bắt đầu điều trị đau nửa đầu ở giai đoạn sớm đó để giảm mức độ nghiêm trọng và thời gian của cơn đau.
Bệnh thoái hoá điểm vàng do tuổi tác thường gặp ở người già, bệnh gây nhiều khó chịu do thị lực của bạn bị kém đi, nhạy cảm với ánh sáng, gặp khó khăn khi phải đọc sách hay nhận diện khuôn mặt. Cùng tìm hiểu về bệnh thoái hoá điểm vàng do tuổi tác có triệu chứng gì và hiện nay đang có phương pháp nào điều trị bệnh qua bài viết sau!
Nhiều người tin cơ thể chỉ có thể hấp thụ 20–30 g đạm (protein) trong một bữa, phần ăn thêm sẽ bị lãng phí. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khoa học mới cho thấy đây là sự nhầm lẫn giữa khả năng hấp thụ đạm và mức kích thích tổng hợp protein cơ bắp.