Mặc dù triệu chứng để chẩn đoán trầm cảm là giống nhau giữa 2 giới, tuy nhiên, một số biểu hiện chính có thể sẽ khác nhau giữa nam giới và nữ giới. Dưới đây là 12 dấu hiệu trầm cảm ở nam giới.
Mệt mỏi
Những người bị trầm cảm thường xuyên cảm thấy mệt mỏi vè mặt thể xác và cảm thấy cảm xúc thường xuyên thay đổi. Họ có thể trải qua cảm giác mệt mỏi, cũng như sẽ trải qua tình trạng lờ đờ, chậm phát triển tâm thần vận động hoặc chậm chạp trong lời nói, suy nghĩ và quá trình vận động. Theo Tiến sỹ Josh Klapow, nhà tâm lý học lâm sàng tại trường đại học y tế công cộng Alabama tại Birmingham, nam giới thường dễ bị mệt mỏi hơn phụ nữ và các triệu chứng khác về mặt thể chất chính là những dấu hiệu chính của bệnh trầm cảm ở nam giới.
Ngủ quá nhiều hoặc quá ít
Các vấn đề về giấc ngủ, ví dụ như mất ngủ, thức dậy rất sớm vào buổi sáng hay ngủ quá nhiều đều là những triệu chứng phổ biến của bệnh trầm cảm. Một số người ngủ tới 12 giờ một ngày và vẫn cảm thấy kiệt sức hoặc hoặc họ cứ trằn trọc và thức dậy mỗi 2 giờ một lần. Cũng giống như tình trạng mệt mỏi, các vấn đề về giác ngủ là một trong số những triệu chứng chính mà nam giới bị trầm cảm mắc phải và thường trao đổi với bác sỹ điều trị.
Đau bụng hoặc đau lưng
Các vấn đề về sức khỏe như táo bón hay tiêu chảy, cũng như đau đầu và đau lưng là rất phổ biến ở những người bị trầm cảm. Nhưng nam giới lại thường không nhận ra những tình trạng đau mãn tính hoặc rối loạn tiêu hóa này đi đôi với bệnh trầm cảm. Do vậy, lúc nào người bệnh trầm cảm cũng cảm thấy mệt mỏi và cảm thấy sức khỏe của mình không tốt.
Dễ bị kích động
Thay vì cảm thấy buồn bã, nam giới bị trầm lại thường xuất hiện dấu hiệu dễ bị kích động. Nếu họ trao đổi với bác sỹ về các vấn đề về cảm xúc, thì đó thường sẽ là cảm xúc buồn bã đi kèm với tình trạng dễ bị kích động. Ngoài ra, các suy nghĩ tiêu cực cũng là một vấn đề rất phổ biến của bệnh trầm cảm. Nam giới thường sẽ dễ bị kích động bởi họ thường xuyên có những suy nghĩ tiêu cực.
Khó tập trung
Tình trạng chậm chạp về mặt tinh thần và vận động có thể làm giảm khả năng tiếp nhận thông tin của nam giới, do đó, ảnh hưởng đến khả năng tập trung trong công việc. Bệnh trầm cảm sẽ khiến nam giới luôn có những suy nghĩ tiêu cực trong đầu, và tâm trí nam giới sẽ bị những suy nghĩ tiêu cực này xâm chiếm. Bạn sẽ làm mọi việc chậm chạp hơn và thường xuyên suy nghĩ về những điều tiêu cực trong cuộc sống. Hậu quả của việc này là bạn sẽ rất khó để tập trung vào làm một việc gì được. Đôi khi tình trạng trầm cảm này được các bác sỹ mô tả như một tình trạng suy não bộ không hồi phục.
Tức giận hoặc có thái độ thù địch
Một số nam giới sẽ thể hiện trạng thái trầm cảm bằng việc có thái độ thù địch, tức giận, nóng nảy. Một nam giới cảm nhận được có điều gì đó không ổn xảy ra với mình sẽ thể hiện ra ngoài bằng cách cho mọi người thấy anh ta vẫn rất mạnh mẽ và có khả năng. Tức giận và có thái độ thù địch cũng là một trạng thái khác với tình trạng dễ bị kích động ở trên. Tức giận là cảm xúc mạnh hơn, còn dễ bị kích động là tình trạng cáu kỉnh. Thái độ thù địch cũng có thể là hậu quả của tình trạng trầm cảm kéo dài và phải chịu áp lực từ bạn bè hoặc gia đình.
Căng thẳng
Nam giới thường xuyên báo cáo lại các triệu chứng của trầm cảm là căng thẳng. Điều này không có nghĩa là khi bị trầm cảm, nam giới bị căng thẳng nhiều hơn, mà chỉ là khi bị trầm cảm, nam giới dễ nhận ra tình trạng căng thẳng, chấp nhận nó và báo cáo lại cho bác sỹ nhiều hơn. Trầm cảm và căng thẳng có mối liên hệ hai chiều với nhau. Căng thẳng có thể là một dấu hiệu chỉ báo của bệnh trầm cảm, nhưng cũng có thể là một trong số những nguyên nhân dẫn đến trầm cảm. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng, căng thẳng kéo dài có thể dẫn đến những thay đổi cả về mặt thể chất lẫn não bộ, và có thể dẫn đến bệnh trầm cảm.
Lo âu
Nghiên cứu đã chỉ ra có một mối liên quan rất chặt chẽ giữa rối loạn lo âu và bệnh trầm cảm. Trên thực tế, nam giới thường có xu hướng lo âu nhiều hơn nữ giới. Tỷ lệ mắc phải rối loạn lo âu ở nam giới thường cao gấp đôi so với ở nữ giới. Và nam giới thường sẽ dễ dàng trao đổi về tình trạng lo âu của mình hơn, là nói về những nỗi buồn. Nam giới có thể sẽ trao đổi những mối lo ngại về công việc, về việc nếu họ bị mất việc sẽ ảnh hưởng đến bản thân và gia đình như thế nào.
Lạm dụng chất
Lạm dụng chất thường đi kèm với trầm cảm. Nghiên cứu đã chứng minh rằng, những người nghiện rượu thường sẽ có nguy cơ trầm cảm cao hơn gấp 2 lần so với những người không gặp phải các vấn đề về bia rượu. Tình trạng lạm dụng chất cũng có thể xảy ra với cả nam giới và nữ giới, nhưng nam giới là đối tượng thường sẽ dùng ma túy hoặc rượu để che giấu cảm xúc của mình nhiều hơn, so với việc tìm kiếm các dịch vụ chăm sóc y tế.
Rối loạn chức năng tình dục
Trầm cảm là một lý do phổ biến của việc giảm ham muốn và rối loạn cương dương, và đó cũng là triệu chứng mà nam giới thường lờ đi, không báo cáo lại với bác sỹ. Tình trạng rối loạn khả năng tình dục này có thể đi cùng với bệnh trầm cảm và khiến bệnh trầm cảm trở nên nặng hơn. Tuy nhiên, rối loạn cương dương cũng có thể là hậu quả của nhiều tình trạng bệnh lý hoặc là tác dụng phụ của việc dùng thuôc (bao gồm cả thuốc chống trầm cảm). Bản thân tình trạng rối loạn cương dương không được coi là dấu hiệu của trầm cảm.
Không quyết đoán
Một số người thường sẽ có bản tính do dự từ trước, do vậy, dấu hiệu do dự, không quyết đoán chỉ là một dấu hiệu đáng lo ngại nếu gần đây tình trạng này mới xuất hiện. Đây là vấn đề về việc tiếp nhận và xử lý thông tin, và bệnh trầm cảm sẽ làm chậm khả năng đưa ra quyết định của bạn.
Suy nghĩ về việc tự tử
Phụ nữ thường có xu hướng nghĩ đến việc tự tử nhiều hơn, nhưng nam giới lại là đối tượng dễ tử vong hơn phụ nữ gấp 4 lần nếu họ có suy nghĩ tự tử. Nguyên nhân là vì nam giới thường lựa chọn những cách tự tử nguy hiểm hơn, ví dụ nhưng dùng vũ khí, và việc này có thể khiến họ tử vong ngay trong lần đầu làm việc này.
Nam giới lớn tuổi sẽ có nguy cơ tự tử cao hơn, và bác sỹ thường sẽ dễ bỏ qua triệu chứng này ở nhóm nam giới lớn tuổi. Trên thực tế, có hơn 70% số nạn nhân lớn tuổi của các vụ tự tử đã đến gặp bác sỹ trong vòng 1 tháng trước khi họ tử vong.Trầm cảm không phải là một phần của lão hóa hay tuổi già ở cả nam giới và nữ giới.
Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.
Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.
Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.
Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.
Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.
Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.
Bệnh Crohn không chỉ gây ra những triệu chứng khó chịu về thể chất như đau bụng, tiêu chảy, mệt mỏi mà còn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của người bệnh. Xây dựng một thói quen chăm sóc bản thân phù hợp chính là cách để sống chung với bệnh nhẹ nhàng hơn.
HbA1c là chỉ số phản ánh mức đường huyết trung bình trong khoảng 3 tháng gần nhất, được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và theo dõi bệnh đái tháo đường.