Đái tháo nhạt: triệu chứng, nguyên nhân, điều trị
Mặc dù nghe tên thì đái tháo đường và đái tháo nhạt có vẻ liên quan đến nhau, nhưng thực ra, lại không có mối liên quan nào giữa 2 căn bệnh này cả. Đái tháo đường, gồm có đái tháo đường typ 1 và typ 2 là dạng bệnh phổ biến hơn.
Chưa có cách chữa trị nào có thể chữa khỏi tình trạng đái tháo nhạt, nhưng điều trị có thể làm giảm bớt triệu chứng khát nước và uống nhiều, cũng như sẽ đưa lượng nước tiểu mà bạn thải ra ngoài về mức bình thường.
Triệu chứng
Dấu hiệu và triệu chứng phổ biến nhất của bệnh đái tháo nhạt bao gồm:
Phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh mà lượng nước tiểu cơ thể bài tiết ra có thể lên tới 15 lít/ngày trong trường hợp bạn uống rất nhiều nước. Thông thường, một người trưởng thành khỏe mạnh chỉ thải ra lượng nước tiểu trung bình khoảng 3 lít/ngày.
Những dấu hiệu khác của bệnh đái tháo nhạt bao gồm tiểu đêm và đôi khi là cả đái dầm.
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ bị đái tháo nhạt có thể xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng sau:
Khi nào cần đến khám bác sỹ?
Bạn nên đến khám bác sỹ ngay lập tức nếu nhận thấy mình xuất hiện 2 dấu hiệu phổ biến nhất của bệnh đái tháo nhạt, bao gồm bài tiết nhiều nước tiểu và thường xuyên khát nước.
Nguyên nhân
Đái tháo nhạt xảy ra khi cơ thể bạn không thể điều chỉnh được lượng nước mà bạn hấp thu vào. Thông thường, thận sẽ loại bỏ nước thừa ra khỏi máu. Lượng nước thừa này sẽ được lưu giữ tạm thời ở bàng quang dưới dạng nước tiểu, trước khi được tống ra ngoài. Khi hệ thống điều chỉnh lượng nước trong cơ thể hoạt động tốt, thận sẽ bảo tồn lượng dịch thừa này và sẽ tạo ra ít nước tiểu hơn trong trường hợp lượng nước của cơ thể đang có dấu hiệu hạ xuống, ví dụ như khi bạn ra mồ hôi nhiều.
Lượng nước cũng như độ đặc của dịch cơ thể sẽ được duy trì cân bằng thông qua sự phối hợp giữa việc bài tiết nước tiểu cũng như việc bổ sung nước bằng đường uống. Lượng nước được bổ sung vào cơ thể được điều chỉnh chủ yếu bằng cảm giác khát, và đôi khi do thói quen, bạn có thể sẽ bổ sung nhiều hơn lượng nước cơ thể cần. Lượng nước tiểu bài tiết ra ngoài bởi thận chịu sự ảnh hưởng của hormone chống bài niệu (ADH), còn được gọi là vasopressin.
Cơ thể sẽ sản xuất ra hormone ADH ở vùng dưới đồi và lưu trữ lượng hormone này tại tuyến yên – một cơ quan nhỏ nằm ở nền sọ và được coi là tuyến chủ nội tiết của cơ thể. ADH sẽ được giải phóng vào máu khi cơ thể bắt đầu bị mất nước. Khi đó, ADH sẽ bắt đầu cô đặc nước tiểu lại bằng cách kích hoạt các tiểu quản của thận để giải phóng nước ngược lại vào máu, thay vì giải phóng nước ra ngoài dưới dạng nước tiểu.
Các cách mà hệ thống này bị ảnh hưởng, sẽ xác định loại đái tháo nhạt mà bạn mắc phải:
Đái tháo nhạt trung ương (Central diabetes insipidus): Nguyên nhân của đái tháo nhạt trung ương ở ngừơi trưởng thành thường là do tổn thương tuyến yên hoặc vùng dưới đồi. Những tổn thương này sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất, dự trữ và giải phóng hormone ADH của cơ thể. Những tổn thương dạng này thường là do phẫu thuật, do khối u (ví dụ u tuyến yên), do bệnh tật (ví dụ như viêm màng não), do viêm hoặc do chấn thương vùng đầu. Với trẻ nhỏ, nguyên nhân có thể là do một rối loạn di truyền. Trong một số trường hợp là không rõ nguyên nhân.
Đái tháo nhạt thai kỳ (Gestational diabetes insipidus): Đái tháo nhạt thai kỳ rất hiếm gặp và chỉ xảy ra trong khi mang thai, khi một enzyme do bánh rau thai tiết ra sẽ phá hủy lượng hormone ADH của người mẹ.
Chứng uống nhiều tiên phát (Primary polydipsia): Tình trạng này còn được gọi là đái tháo nhạt dipsogenic hoặc uống nhiều do tâm lý, có thể gây ra việc bài tiết một lượng lớn nước tiểu loãng. Nguyên nhân của tình trạng này ít khi là do vấn đề với hormone ADH mà thường là do việc uống quá nhiều nước. Bản thân việc uống quá nhiều nước trong thời gian dài có thể gây tổn thương thận và làm giảm lượng ADH, làm cho cơ thể bạn không thể cô đặc nước tiểu được. Chứng uống nhiều tiên phát có thể là hậu quả của việc khát nước bất thường gây ra do tổn thương cơ chế điều chỉnh việc khát, nằm ở vùng dưới đồi. Uống nhiều tiên phát cũng có liên quan đến một số vấn đề về sức khỏe tâm thần.
Trong một số trường hợp đái tháo nhạt, bác sỹ không thể tìm ra được nguyên nhân gây bệnh là gì.
Các yếu tố nguy cơ
Đái tháo nhạt do thận thường xuất hiện ngay khi sinh hoặc một thời gian ngắn sau khi sinh ra, và thường có nguyên nhân là do di truyền, sẽ làm thay đổi vĩnh viễn khả năng cô đặc nước tiểu của thận. Đái tháo nhạt do thận thường ảnh hưởng đến nam giới nhiều hơn, mặc dù phụ nữ cũng có thể truyền gen này cho các con của mình.
Biến chứng
Mất nước
Trừ trường hợp uống nhiều tiên phát sẽ khiến cơ thể giữ quá nhiều nước, các dạng đái tháo nhạt còn lại đều khiến có thể bị mất nước, không hoạt động bình thường được. Mất nước có thể gây ra các dấu hiệu như:
Mất cân bằng điện giải
Đái tháo nhạt có thể gây ra mất cân bằng điện giải. Điện giải là các chất khoáng có trong máu, ví dụ như kali và natri – giúp duy trì lượng dịch trong cơ thể. Mất cân bằng điện giải có thể gây ra các triệu chứng như:
Chẩn đoán
Do dấu hiệu và triệu chứng của bệnh đái tháo nhạt có thể có nguyên nhân là do các bệnh khác, nên bác sỹ có thể sẽ tiến hành một vài xét nghiệm. Nếu bác sỹ xác định bạn bị đái tháo nhạt, thì bác sỹ sẽ cần phải xác định được loại đái tháo nhạt mà bạn mắc phải là gì, vì cách điều trị mỗi loại đái tháo nhạt sẽ khác nhau.
Một số loại xét nghiệm bác sỹ thường sử dụng để xác định loại đái tháo nhạt trong một số trường hợp bao gồm:
Water deprivation test: Đây là xét nghiệm giúp chẩn đoán xác dịnh và giúp xác định được nguyên nhân đái tháo nhạt. Dưới sự theo dõi y khoa, bạn sẽ được yêu cầu không được uống nước trong một khoảng thời gian, để bác sỹ kiểm soát được sự thay đổi thể trọng của cơ thể, lượng nước tiểu bài tiết ra, độ đặc của nước tiểu và máu khi không được bổ sung nước bằng đường uống. Bác sỹ cũng có thể sẽ đo lường lượng ADH trong máu hoặc theo dõi quá trình tổng hợp ADH thông qua xét nghiệm này. Trẻ em và phụ nữ có thai nếu làm xét nghiệm này sẽ cần được theo dõi chặt chẽ để đảm bảo rằng, lượng nước mà cơ thể mất đi trong khi làm xét nghiệm là dưới 5%.
Tổng phân tích nước tiểu: Đây là xét nghiệm sẽ phân tích các tính chất vật lý và hóa học của nước tiểu. Nếu nước tiểu của bạn ít đặc hơn so với bình thường, có nghĩa là lượng nước cao hơn lượng các chất khác, thì có thể là bạn đã bị đái tháo nhạt.
Chụp cộng hưởng từ (MRI): Chụp cộng hưởng từ vùng đầu là một kỹ thuật không xâm lấn sử dụng sóng có từ tính mạnh để cho thấy hình ảnh chi tiết về các mô não. Bác sỹ có thể sẽ yêu cầu bạn chụp cộng hưởng từ để xem xét các bất thường tại tuyến yên hoặc gần tuyến yên, nếu có.
Điều trị
Điều trị đái tháo nhạt phụ thuộc vào dạng đái tháo nhạt mà bạn mắc phải. Các lựa chọn điều trị phổ biến cho các loại đái tháo nhạt bao gồm:
Đái tháo nhạt trung ương: Vì nguyên nhân của dạng đái tháo nhạt này là thiếu hormone ADH, nên việc điều trị thường sẽ là sử dụng hormone tổng hợp tên là desmopressin. Bạn có thể sử dụng desmopressin dưới dạng xịt mũi, viên uống hoặc đường tiêm. Nếu nguyên nhân là do bất thường tại tuyến yên hoặc vùng dưới đồi, ví dụ như có khối u, thì bác sỹ sẽ điều trị những bất thường này trước.
Desmopressin chỉ là loại thuốc uống khi cần, bởi vì ở đa số các trường hợp, thiếu ADH là không hoàn toàn, cơ thể vẫn có thể sản xuất ra một lượng ADH nhất định, nhưng sẽ thay đổi theo từng ngày. Sử dụng quá nhiều desmopressin có thể gây ra tình trạng giữ nước, hạ natri máu. Triệu chứng hạ natri máu bao gồm thờ ơ, đau đầu, buồn nôn và co giật trong trường hợp nặng. Trong những trường hợp đái tháo nhạt trung ương nhẹ, bạn chỉ càn tăng lượng nước uống hàng ngày.
Đái tháo nhạt do thận: Là do thận không đáp ứng với ADH, do vậy không thể điều trị bằng desmopressin. Thay vào đó, bác sỹ có thể sẽ yêu cầu bạn thực hiện chế độ ăn ít muối để làm giảm lượng nước tiểu mà thận tạo ra. Bạn cũng cần uống đủ nước để tránh không bị mất nước. Thuốc hydrochlorothiazide dùng đơn thuần hoặc phối hợp với các thuốc khác cũng có thể giúp cải thiện các triệu chứng. Mặc dù hydrochlorothiazide là một thuốc lợi tiểu, nhưng trong một số trường hợp, có thể làm giảm sự bài tiết nước tiểu ở những người bị đái tháo nhạt do thận. Nếu triệu chứng đái tháo nhạt do thận là do dùng một số loại thuốc, bạn không nên tự ý ngừng sử dụng các loại thuốc đó mà không hỏi ý kiến bác sỹ.
Đái tháo nhạt thai kỳ: Đa số được điều trị bằng desmopressin. Trong trường hợp hiếm gặp, nguyên nhân gây bệnh là do cơ chế điều chỉnh khát gặp vấn đề thì bác sỹ sẽ không kê desmopresin.
Uống nhiều tiên phát: Không có cách điều trị cụ thể cho dạng đái tháo nhạt này ngoài việc làm giảm lượng nước uống vào. Tuy nhiên, nếu tình trạng này là do các vấn đề về tâm thần gây ra, thì việc điều trị các vấn đề tâm thần có thể sẽ làm giảm bớt các triệu chứng.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Tại sao bạn luôn thức dậy để đi tiểu mỗi đêm?
Ve, muỗi, kiến lửa, bọ chét hay nhện độc... là những "vị khách không mời" quen thuộc trong sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt vào mùa mưa ẩm.
Một nghiên cứu công bố trên tạp chí PLOS Medicine cho thấy việc theo dõi sự thay đổi của các chỉ số xét nghiệm máu theo thời gian có thể giúp nhận diện nguy cơ ung thư sớm hơn so với việc chỉ đánh giá kết quả của một lần xét nghiệm.
Đột quỵ là biến cố cấp tính nguy hiểm xảy ra khi dòng máu nuôi não bị tắc nghẽn hoặc bị gián đoạn, khiến tế bào não bị hoại tử nhanh chóng. Nếu không được cấp cứu trong "thời gian vàng", bệnh có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề như liệt, rối loạn ngôn ngữ. Hiện nay, căn bệnh này đang có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt là ở nam giới. Nhằm giúp cộng đồng chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cốt lõi giúp nhận diện nguyên nhân và phòng ngừa đột quỵ hiệu quả.
Ngũ cốc nguyên hạt từ lâu đã được khuyến cáo trong chế độ ăn có lợi cho tim mạch.
Các thực phẩm chức năng từ nghệ, đặc biệt là những loại có thêm tiêu đen, có thể gây hại cho gan, với số ca tổn thương gan do nghệ gây ra ngày càng tăng trong những năm gần đây.
Một số thực phẩm chức năng có thể cải thiện sức bền hoặc hiệu suất thể thao. Tuy nhiên, một số loại thực phẩm chức năng có thể hứa hẹn kết quả quá mức hoặc đi kèm với rủi ro.
U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!
Khi thời tiết chuyển lạnh và nhiệt độ giảm sâu, nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi tăng cao đáng kể, trở thành mối lo ngại hàng đầu của nhiều gia đình. Tình trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng mà còn dễ để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí kịp thời. Nhằm giúp mọi người chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ những thông tin khoa học về nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết sớm và các biện pháp phòng ngừa đột quỵ hiệu quả trong mùa đông.