Đây là một nghiên cứu thử nghiệm được dẫn đầu bởi các nhà khoa học Thuộc trung tâm y tế NYU Langone và đã được xuất bản online trên tạp chí Nature Medicine.
Nghiên cứu này tập trung xung quanh các microbiome là các vi sinh vật có lợi sống ở trên da và bên trong miệng và đường ruột của con người. Những vi sinh vật này đã phát triển từ hàng triệu năm nay và đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa, chuyển hóa và miễn dịch trong cơ thể.
So với những trẻ sinh qua đường âm đạo thông thường, trẻ sinh bằng phương pháp mổ đẻ sẽ bị hạn chế sự phát triển của các vi sinh vật này, trong khi chúng đóng vai trò quyết định trong việc hình thành hệ miễn dịch tự nhiên để chống lại các vi khuẩn gây bệnh khác.
Một số nghiên cứu trước đây đã chứng minh hệ vi sinh ở trẻ sơ sinh được sinh thường qua đường âm đạo khá giống với những vi khuẩn trong âm đạo của người mẹ, trong khi hệ vi sinh ở những trẻ sinh mổ lại giống những vi khuẩn trên da của mẹ.
Những nguyên nhân như việc sinh bằng phương pháp mổ đẻ, sử dụng kháng sinh trong thai kỳ và tình trạng phụ thuộc vào sữa công thức đã làm phá vỡ quá trình phát triển tự nhiên của hệ vi sinh có lợi trong cơ thể, dẫn đến làm gia tăng gấp đôi tỷ lệ mắc các bệnh hen phế quản, các bệnh miễn dịch và béo phì.
Theo trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sỹ Maria Dominguez: “Đây là nghiên cứu đầu tiên cho thấy rằng chúng ta có khả năng phục hồi một phần hệ vi sinh tự nhiên trong cơ thể của những trẻ sinh mổ. Những băn khoăn về việc liệu hệ vi sinh tự nhiên của một đứa trẻ liệu có ảnh hưởng đến khả năng mắc bệnh về sau của nó hay không ngày càng trở nên cấp bách và cần lời giải đáp.
Hệ vi sinh được phục hồi khá gần với hệ vi sinh của những đứa trẻ được sinh một cách tự nhiên
Trong nghiên cứu mới này, các nhà khoa học nhận thấy rằng trẻ sơ sinh được sinh mổ và được tiếp xúc với dịch âm đạo của người mẹ sẽ có hệ vi sinh giống với những trẻ sinh thường qua âm đạo trong vòng 30 ngày đầu đời hơn so với trẻ sinh mổ nhưng không được tiếp xúc.
Điều thú vị là kết quả xét nghiệm từ mẫu vi sinh vật lấy từ những đứa trẻ sinh mổ được tiếp xúc với dịch âm đạo và trẻ sinh thường cho thấy một sự gia tăng của những vi khuẩn thuộc nhóm Lactobacillus và Bacteroides, là những chủng vi khuẩn đóng vai trò quan trọng trong việc giúp hệ miễn dịch tự nhiên của trẻ để nhận diện và tránh tấn công lại các vi khuẩn có lợi.
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên quy mô lớn hơn cần được thực hiện để rút ra kết luận về liệu mức độ hồi phục của các vi sinh vật trên có thể đạt được bao nhiêu.
Trong một nghiên cứu mới xuất bản, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập mẫu từ 18 trẻ sơ sinh và mẹ của chúng, bao gồm 7 trẻ sinh thường và 11 trẻ được sinh mổ (trong đó có 4 trẻ được tiếp xúc với dịch âm đạo của mẹ sau sinh). Do số lượng trẻ trong nghiên cứu này là rất nhỏ nên nhóm đã thu thập thêm 1.500 mẫu từ những trẻ sơ sinh và mẹ, sau đó sử dụng kỹ thuật di truyền để phân tích hơn 6.5 triệu mẩu DNA của vi khuẩn.
Trong mỗi tế bào vi khuẩn, bản thiết kế cho vi sinh vật đó được mã hóa trong các trình tự DNA, và bao gồm các nucleotide. Những chữ cái tạo thành những ký hiệu mã hóa có chứa cấu trúc di truyền, những nghiên cứu trước kia đã so sánh những trình tự DNA quan trọng với những loại vi khuẩn đã biết trước. Kết hợp trình tự di truyền của mẫu nghiên cứu với những dữ liệu sẵn có, nhóm nghiên cứu có thể áp dụng những test kiểm tra thống kê kể theo dõi một cách chính xác nguồn gốc của những vi sinh vật sống trong cơ thể của mỗi trẻ.
Những nghiên cứu trên quy mô lớn hơn về tác dụng của sự phục hồi hệ vi sinh đường ruột đối với sức khỏe con người sẽ giúp trả lời cho câu hỏi liệu nó có ảnh hưởng gì đến nguy cơ mắc những căn bệnh về sau.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.
Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.
Khám phá ngay các biện pháp kiểm soát axit uric hiệu quả để xoa dịu cơn đau và ngăn ngừa bệnh tái phát, giúp bạn lấy lại nhịp sống năng động thường ngày