Chế độ ăn và chứng đau nửa đầu
Nên: Uống đủ nước
Uống đủ nước là rất quan trọng khi kiểm soát chứng đau nửa đầu. Bởi mất nước là một yếu tố phổ biến gây ra chứng đau nửa đầu. Trên thực tế, đau đầu nhẹ đến trung bình có thể là dấu hiệu của mất nước. Hãy đặt mục tiêu uống 8 cốc nước mỗi ngày, mặc dù nhu cầu uống nước của bạn có thể thay đổi dựa trên các yếu tố khác. Bạn có thể cần phải uống nhiều nước hơn khi trời nóng hoặc khô, hoặc khi bạn tập thể dục. Phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú cũng cần uống nhiều nước hơn.
Để uống đủ nước, tốt nhất là uống nước lọc, tuy nhiên bạn cũng có thể thử trà thảo mộc hoặc một số loại đồ uống lành mạnh khác .
Không nên: Dùng quá nhiều Caffeine
Caffeine - được tìm thấy trong thức uống như trà, cà phê, và soda - có liên quan với chứng đau nửa đầu. Caffein chứa các chất làm giảm đau, vì vậy có thể sẽ hữu ích với những người đang bị đau nửa đầu. Trên thực tế, caffein là một thành phần phổ biến trong thuốc giảm đau đầu. Với một lượng nhỏ, caffeine thường không gây tổn thương. Đối với hầu hết mọi người bị chứng đau nửa đầu, một ly caffein một ngày là tốt. Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, một ly cà phê 200ml chứa khoảng 95 miligam caffeine.
Tuy nhiên, nhiều người có thể tiêu thụ quá nhiều caffein có thể gây tăng dung nạp làm tăng nguy cơ xuất hiện hội chứng cai caffeine khi họ dừng tiêu thụ-và triệu chứng có thể bao gồm lo lắng và đau đầu. Đau đầu do cai caffeine có thể bắt đầu ngay từ 12 đến 24 giờ sau liều cuối cùng của caffeine và cao nhất từ 20 đến 51 giờ sau đó. Để an toàn, hãy cố gắng giữ cho lượng caffeine của bạn là một lượng nhỏ và không tiêu thụ caffein nếu đó là nguyên nhân gây đau nửa đầu

Nên: Theo dõi các loại thức ăn gây đau nửa đầu
Có rất nhiều thực phẩm gây khởi phát đau nửa đầu và thực phẩm khiến bạn bị đau nửa đầu có thể khác với thực phẩm khiến người khác bị đau đầu. Ngoài ra, cũng rất khó xác định loại thực phẩm nào khiến bạn bị đau nửa đầu bởi chế độ ăn của chúng ta thường bao gồm rất nhiều loại thực phẩm. Do vậy, ghi lại nhật ký ăn uống hàng ngày có thể giúp ích cho bạn. Hãy thử ghi lại những gì bạn đang ăn mỗi ngày và xem xem liệu bạn có bị đau nửa đầu hay không. Nếu trên 50% số lần đau đầu của bạn xảy ra khi bạn ăn một loại thức ăn hoặc đồ uống nào đó thì đó có thể là nguyên nhân. Nếu bạn nghi ngờ một loại thực phẩm nào đó là nguyên nhân, bạn có thể thử để loại bỏ nó ra khỏi chế độ ăn uống của bạn.
Nếu bạn ghi nhật ký thực phẩm và bạn không thể tìm ra yếu tố gây đau đầu, có thể bạn không bị ảnh hưởng bởi loại thực phẩm cụ thể.
Không nên: Bỏ bữa
Ngay cả khi bạn không có bất kỳ thực phẩm đặc biệt nào gây đâu nửa đầu, thì thói quen bỏ bữa của bạn cũng có thể là một nguyên nhân gây đau nửa đầu. Thời gian nhịn ăn kéo dài có thể gây ra đau đầu. Cùng với đó, ăn một vài bữa ăn lớn mỗi ngày cũng có thể làm cho bạn vừa bị tăng đường huyết và vừa bị đau nửa đầu. Thay vào đó, hãy thường xuyên, nhiều bữa nhỏ. Điều này có thể giúp bạn ngăn ngừa tình trạng đau nửa đầu liên quan đến đói, giữ lượng đường máu được kiểm soát, và tránh ăn nhiều thức ăn có thể gây đau đầu.
Một cách dễ dàng để ngăn ngừa chứng đau nửa đầu do đói là ăn nhẹ vào ban đêm. Nghiên cứu cho thấy rằng những người có bữa ăn nhẹ ban đêm ít bị đau đầu ngày hôm sau hơn 40% so với những người không ăn đêm.
Nên: Duy trì cân nặng khỏe mạnh
Một cân nặng lành mạnh không những tốt cho sức khoẻ tổng thể của bạn mà cũng có thể làm giảm tần số của chứng đau nửa đầu. Bệnh béo phì đã được chứng minh là một yếu tố nguy cơ cho sự tiến triển của chứng đau nửa đầu mãn tính. Trên thực tế, đạt được một cân nặng lí tưởng có thể là một phần của quá trình điều trị đau nửa đầu. Những người mắc chứng đau nửa đầu mạn tính thường được khuyên là nên giảm cân. Bệnh béo phì không gây ra chứng đau nửa đầu nhưng là một yếu tố nguy cơ gắn liền với một loạt các bệnh lí khác ảnh hưởng đến đau nửa đầu, như ngưng thở do tắc nghẽn khi ngủ và tăng áp lực dịch tủy sống.
Nếu bạn cần giảm cân, liên hệ với bác sĩ để có kế hoặc ăn uống và tập luyện phù hợp. Điều này cũng quan trọng khi phối hợp với bác sĩ vì thuốc điều trị đau nửa đầu cũng ảnh hưởng đến cân nặng.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Sự thật cần biết về đau nửa đầu
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!
Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.
Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.
Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.
Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.