Thông thường, thủy đậu là bệnh lành tính. Nhưng bệnh cũng có thể gây biến chứng nguy hiểm như: viêm màng não, xuất huyết, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nốt rạ, viêm mô tế bào, viêm gan… Một số trường hợp có thể gây tử vong nếu người bệnh không được điều trị kịp thời.
Viêm phổi do thủy đậu, ít khi xảy ra hơn, nhưng rất nặng và rất khó trị.
Viêm não do thủy đậu cũng xảy ra, không hiếm: sau thủy đậu trẻ bỗng trở nên vật vã, kích thích, nhiều khi kèm theo co giật, hôn mê. Những trường hợp này có thể mang di chứng thần kinh lâu dài: bị điếc, chậm phát triển, động kinh v.v…
Người mẹ mắc bệnh thủy đậu khi đang mang thai có thể sinh con bị dị tật bẩm sinh sau này.
Chăm sóc người bệnh bị thủy đậu
Vì là bệnh lây qua đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp với dịch nốt phỏng nên khi trẻ bị thủy đậu, việc đầu tiên là các bậc cha mẹ nên cách ly trẻ tại nhà cho tới khi khỏi hẳn. Bổ sung thêm vitamin C, nhỏ mũi 2 lần/ngày cho trẻ. Mặc quần áo vải mềm, thấm hút mồ hôi và đặc biệt chú ý tới việc đảm bảo vệ sinh da cho trẻ để tránh xảy ra biến chứng. Giữ bàn tay cho trẻ thật sạch. Khi cần tiếp xúc người bệnh thủy đậu thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh.
Lưu ý: Tránh làm vỡ các nốt thuỷ đậu vì dễ gây bội nhiễm và có thể tạo thành sẹo tồn tại lâu dài.
Nằm trong phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7 đến 10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh (phát ban) cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn.
Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng: khăn mặt, cốc, chén, bát, đũa.
Vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9%.
Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày bằng nước ấm sạch.
Nên mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng.
Đối với trẻ em:
– Nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước.
– Ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả.
– Dùng dung dịch xanh Milian (xanh Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ.
– Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc, có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng: nốt rạ có mủ, tấy đỏ vùng da xung quanh.
Nếu bệnh nhân cảm thấy: Khó chịu, lừ đừ, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị.
Mặc dù bệnh có thể lây lan nhanh chóng trong cộng đồng, nhưng hiện tại đã có biện pháp chủ động để phòng ngừa bệnh thủy đậu, đó là chủng ngừa bằng vắc-xin. Đối với trẻ từ 12 tháng tuổi tới 12 tuổi, tiêm 1 liều và liều thứ 2 nên tiêm thêm cách liều thứ nhất 6 tuần trở đi hoặc trong khoảng 4 – 6 tuổi để gia tăng hiệu quả phòng bệnh và giảm việc mắc bệnh thuỷ đậu trở lại mặc dù trước đó đã tiêm phòng. Đối với trẻ trên 13 tuổi, thanh niên và người lớn, tiêm 2 liều cách nhau tốt nhất là sau 6 tuần.
Những quan niệm kiêng cữ sai lầm khi bị bệnh thủy đậu thường gặp là:
Khi bị thủy đậu nhiều người tuyệt đối kiêng nước, không sờ, đụng tay vào nước dưới mọi hình thức. Thậm chí không rửa tay trước khi ăn hay sau khi đi vệ sinh, mồ hôi tay ra nhớp nháp thì lấy giấy khô lau sạch.
Nhiều người nghĩ rằng sử dụng gel rửa tay khô để tránh nước thì sẽ nhanh khỏi bệnh. Tuy nhiên, khi bị thủy đậu không phải ngày một, ngày hai khỏi ngay được. Nếu kiêng nước trong ngần đó thời gian thì tay, chân sẽ rất mất vệ sinh khiến vi khuẩn tích tụ, gây bệnh.
Kiêng gió
Kiêng gió cũng là một quan niệm sai thường được áp dụng với người bị thủy đậu. Thông thường, người bị bệnh phải ở trong phòng kín, che chắn cẩn thận đến mức khó chịu khi có việc cần ra ngoài.
Nếu những ngày nhiệt độ mát, ổn định chuyện kiêng gió trở nên đơn giản, nhưng thậm chí khi trời nóng bức, nhiều người thà chấp nhận toát mồ hôi còn hơn nhiễm gió.
Kiêng tắm
Với chủ trương kiêng nước, kiêng gió, chuyện tắm gội của người mắc thủy đậu lại càng bị cấm triệt để nhằm phòng biến chứng. Tuy nhiên, không ít trường hợp vì kiêng quá kỹ gây ra hiện tượng bị viêm nhiễm tại các vết mụn nước (do tình trạng mất vệ sinh, khó chịu nên gãi gây trầy xước các mụn nước).
Nhiều người bị bệnh nặng hơn do vết thương bội nhiễm, vi khuẩn tấn công làm tăng thời gian điều trị, thậm chí gây tử vong. Bạn hoàn toàn có thể lau rửa, tắm nhanh và nhẹ nhàng bằng nước ấm để làm sạch mồ hôi hàng ngày.
Người bệnh thủy đậu không nên kiêng khem một cách thái quá vì trong thời gian bị bệnh đồng nghĩa với việc sức đề kháng đang bị suy giảm nghiêm trọng. Vì vậy, bạn nên duy trì chế độ ăn cân bằng, giàu dinh dưỡng, bổ sung vitamin A, C, kẽm để nâng cao hệ miễn dịch.
Kiêng đúng là gì?
Kiêng chỗ đông người
Thủy đậu là bệnh truyền nhiễm có khả năng lây qua đường không khí hoặc tiếp xúc với người bệnh. Trong thời gian mắc bệnh, người bệnh cần tránh đến những nơi đông người. Điều này giúp người bệnh ổn định, không lây nhiễm các loại bệnh khác vì sức đề kháng lúc này rất kém, đồng thời tránh lây bệnh cho mọi người xung quanh.
Kiêng sờ, gãi mụn nước
Những mụn nước thủy đậu làm người bệnh khó chịu, ngứa ngáy. Tuy nhiên, bạn tuyệt đối không được gãi hoặc làm vỡ các mụn nước vì chúng có thể để lại sẹo và lây lan sang các vùng da xung quanh. Với trẻ nhỏ, gia đình nên nhắc nhở trẻ không sờ, gãi vào các mụn nước, vệ sinh thân thể sạch sẽ, cắt móng tay và cho bé mặc đồ rộng rãi, tránh cọ xát.
Kiêng đồ nếp, đồ tanh
Trong quá trình chuẩn bị bữa ăn cho người bệnh thủy đậu, cần tránh các đồ nếp, đồ tanh vì chúng có thể làm các nốt mụn sưng tấy nhiều hơn. Ngoài ra, bệnh nhân thủy đậu cần hạn chế tối đa ăn đồ chiên xào nhiều dầu mỡ và chất cay nóng.
Theo nhiều ghi chép lịch sử và truyền thuyết dân gian Đông Á, trà có nguồn gốc từ rất sớm và từ lâu đã được xem là thức uống vừa giúp giải khát, vừa mang ý nghĩa bồi bổ sức khỏe. Dù các câu chuyện như truyền thuyết Thần Nông mang màu sắc văn hóa – biểu tượng, chúng phản ánh thực tế rằng con người đã sớm khai thác thực vật như một phần của chăm sóc sức khỏe qua hàng nghìn năm. Các bằng chứng khảo cổ và tư liệu lịch sử cũng cho thấy trà và các chế phẩm thảo mộc đã được sử dụng rộng rãi trong chế độ ăn và y học dân gian của nhiều nền văn minh, đặc biệt tại châu Á.
Uống cà phê sai cách như thêm nhiều đường, uống quá sớm hoặc quá nhiều có thể gây mất ngủ và cản trở giảm cân. Chỉ cần vài điều chỉnh nhỏ trong thói quen hàng ngày sẽ giúp bạn tối ưu hóa lợi ích sức khỏe từ thức uống này.
Trong thế giới thể thao hiện đại, từ những tay đua trên các chặng đua rực lửa, những trận bóng đá đỉnh cao cho đến các giải đấu Thể thao điện tử (Esports) triệu đô, hình ảnh các hãng đồ uống tăng lực khổng lồ hay xuất hiện trên mọi phương diện. Chúng ta thường thấy các vận động viên hàng đầu cầm trên tay những lon nước đặc trưng, uống một ngụm đầy sảng khoái trước ống kính truyền hình. Tuy nhiên, đằng sau những chiến dịch truyền hình và hình ảnh đầy năng lượng đó là một sự thật mà không phải ai cũng biết.
Sau tuổi 30, khi hệ nội tiết bắt đầu có những dấu hiệu 'lỗi nhịp', đu đủ chín không chỉ là món tráng miệng ngọt ngào mà còn là giải pháp tự nhiên giúp chị em cân bằng nội tiết từ sâu bên trong.
Khứu giác không chỉ giúp chúng ta thưởng thức hương vị cuộc sống mà còn là một hệ thống cảnh báo sớm quan trọng của cơ thể. Tuy nhiên, nhiều người thường phớt lờ những mùi lạ trong môi trường sống mà không biết rằng ô nhiễm mùi có thể gây ra những tác động tiêu cực ngay lập tức hoặc lâu dài đến sức khỏe thể chất và tinh thần.
Alzheimer là dạng sa sút trí tuệ phổ biến nhất ở người cao tuổi, đặc trưng bởi sự thoái hóa dần dần của tế bào thần kinh và synap trong não. Hậu quả là trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ và khả năng sinh hoạt hàng ngày của người bệnh suy giảm nghiêm trọng.
Dù có nhiều lợi ích cho sức khỏe nhưng rau cải bẹ xanh vẫn tiềm ẩn nguy cơ có hại cho sức khỏe với một số người. Nếu ăn uống thiếu kiến thức, loại rau này có thể khiến bệnh tình trở nên tồi tệ hơn.
Bạn đang cảm thấy tự ti với đôi má bánh bao, nọng cằm hay vùng cổ kém thon gọn? Bạn không đơn độc. Mặc dù trên thị trường có rất nhiều loại đai định hình hay thiết bị massage được quảng cáo là "thần dược" giúp mặt thon gọn, nhưng thực tế có rất ít bằng chứng khoa học ủng hộ các phương pháp này.