Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Chế độ ăn giàu chất béo trong thai kỳ làm giảm lợi khuẩn đường ruột của thế hệ sau

Việc tiêu thụ một chế độ ăn giàu chất béo trong thai kỳ có thể ảnh hưởng tới quần thể hệ vi khuẩn ruột ở thế hệ sau, điều này có thể gây ra các bất lợi cho dinh dưỡng và sự phát triển. Đây là kết luận của một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí “Genome Medicine”.

Việc tiêu thụ một chế độ ăn giàu chất béo trong thai kỳ có thể ảnh hưởng tới quần thể hệ vi khuẩn ruột ở thế hệ sau, điều này có thể gây ra các bất lợi cho dinh dưỡng và sự phát triển. Đây là kết luận của một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Genome Medicine. 

Các nhà nghiên cứu cho rằng những thai phụ tiêu thụ một chế độ ăn giàu chất béo trong thai kỳ có thể gây ra nhiều nguy cơ cho sức khoẻ và sự phát triển của con họ.

 Những gì thai phụ ăn và uống trong thai kỳ đã được biết rõ là có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ và sự phát triển của con họ. Lấy ví dụ, các thai phụ đã được khuyến cáo nên tiêu thụ 0,4mg acid folic mỗi ngày nhằm giúp ngăn ngừa những khiếm khuyết lúc sinh nhất định, và lời khuyên hiện nay được đưa ra là một chế độ ăn khoẻ mạnh, cân bằng là tốt nhất cho cả bà mẹ lẫn trẻ. Nhưng theo đồng tác giả của nghiên cứu TS. Kjersti Aagaard, thuộc Trường Y Baylor ở Houston, Texas, Hoa Kỳ, cùng các đồng nghiệp, nghiên cứu mới của họ gợi ý rằng nên tập trung nhiều hơn nữa vào lượng nhập chất béo của thai phụ trong thai kỳ.

Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng những trẻ được sinh ra từ các bà mẹ với một lượng nhập chất béo cao hơn trong thai kỳ có ít Bacteroides trong ruột của trẻ hơn so với những trẻ được sinh ra từ các bà mẹ với lượng nhập chất béo hằng ngày thấp hơn trong thai kỳ, và điều này có thể dẫn tới các hậu quả bất lợi cho sức khoẻ và sự phát triển.

Các nhà nghiên cứu đưa ra các kết luận của mình sau khi phân tích những mẫu phân của 157 trẻ sơ sinh, những mẫu phân này được lấy trong vòng 24 đến 48 giờ sau khi trẻ được sinh ra. Những mẫu phân của 75 trẻ sơ sinh này được phân tích lại lần nữa ở 4 đến 6 tuần tuổi. Bằng việc sử dụng phương pháp giải trình tự chuỗi DNA, các nhà nghiên cứu đánh giá thành phần vi khuẩn trong những mẫu phân – một chỉ dấu của quần thể vi sinh vật trong ruột. Thêm vào đó, nhóm nghiên cứu đánh giá những thói quen ăn uống của các bà mẹ trong thai kỳ. Những thói quen này được xác định thông qua việc hoàn thành Bảng câu hỏi Tầm soát Chế độ ăn (the Dietary Screener Questionnaire) – một bảng khảo sát gồm 26 điểm hỏi về tần suất tiêu thụ một số loại thức ăn và đồ uống nhất định trong tháng vừa qua. Bằng việc sử dụng câu trả lời của các bà mẹ, các nhà nghiên cứu ước tính lượng nhập calo hằng ngày từ đường, chất béo và chất xơ bổ sung trong tháng trước khi sinh.

Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng lượng nhập calo hằng ngày của các bà mẹ từ chất béo dao động từ 14% đến 55,2% mỗi ngày, trong khi đó lượng nhập trung bình hằng ngày từ chất béo dừng lại ở con số 33,1%. So sánh với những trẻ sơ sinh có mẹ với lượng nhập chất béo hằng ngày thấp hơn trong tháng trước khi sinh, những trẻ có mẹ với một lượng nhập chất béo hằng ngày cao hơn có nồng độ 
Bacteroides trong ruột thấp hơn chỉ một thời gian ngắn sau sinh và ở thời điểm 4-6 tuần tuổi.

Các nhà nghiên cứu giải thích rằng 
Bacteroides giúp phân huỷ và loại bỏ nguồn năng lượng từ các carbohydrate đặc hiệu, do đó sự suy giảm nồng độ Bacteroides đồng nghĩa với việc các loại carbohydrate này có thể trở nên không sử dụng được. Họ cho rằng điều này có thể dẫn tới việc loại bỏ năng lượng từ thức ăn cũng như sự phát triển sẽ trở nên kém hơn.

Nhóm nghiên cứu phát biểu rằng các kết quả này gợi ý nên chú ý nhiều hơn tới lượng nhập chất béo của các bà mẹ cũng như những hậu quả có thể xảy ra cho con của họ. “Chúng tôi dự đoán rằng sẽ xảy ra một cuộc tranh cãi lớn về việc thảo luận cũng như ước tính xem lượng nhập chất béo sẽ là bao nhiêu” – TS. Aagaard lưu ý. Hơn thế nữa, nghiên cứu cung cấp thêm chứng cứ về việc bằng cách nào mà chế độ ăn của bà mẹ có thể ảnh hưởng tới hệ vi khuẩn đường ruột của thế hệ sau. “Các phát hiện này mở ra toàn bộ những hướng đi mới của nghiên cứu, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp thêm các bảng câu hỏi và dữ liệu về chế độ ăn của bà mẹ khi nghiên cứu những biến đổi xảy ra sớm của hệ vi khuẩn. Tuy nhiên, cần có các nghiên cứu trong tương lai nhằm chứng minh xem liệu những biến đổi trong các chế độ ăn của bà mẹ có một ảnh hưởng có lợi cho con của họ ngay lập tức hoặc trong thời gian dài hay không” – TS. Kjersti Aagaard phát biểu.

ThS. BS. Lê Phạm Thu Hà - Bộ môn Nhi ĐH Y Dược TP.HCM - Theo hosrem.org/ Medicalnewstoday 8/2016
Bình luận
Tin mới
  • 24/02/2026

    Một số thảo dược chống viêm tiềm năng

    Phản ứng viêm là một quá trình sinh học đa bước, đòi hỏi sự can thiệp từ nhiều nhóm hợp chất khác nhau để đạt được hiệu quả điều hòa tối ưu. Từ khả năng làm giảm giải phóng histamine của La hán quả đến tác động ức chế nitric oxide của Hạ khô thảo và đặc tính chống oxy hóa mạnh mẽ của Curcumin trong Nghệ, các thảo dược đang chứng minh vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định nội môi.

  • 24/02/2026

    Mất ngủ khi mang thai: Bí quyết giúp mẹ bầu ngủ ngon và an toàn cho thai nhi

    Mất ngủ khi mang thai không chỉ là nỗi lo về sức khỏe mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống của mẹ bầu. Hiểu rõ nguyên nhân và áp dụng đúng các giải pháp hỗ trợ sẽ giúp mẹ cải thiện giấc ngủ nhanh chóng.

  • 24/02/2026

    Hồi phục sức khỏe sau kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán

    Tết Nguyên Đán là khoảng thời gian quan trọng trong văn hóa người Việt, nhưng cũng là thời điểm gây ra những xáo trộn lớn về nhịp sinh học, chế độ dinh dưỡng và thói quen vận động. Những thay đổi đột ngột này dẫn đến hội chứng "mệt mỏi hậu kỳ nghỉ", làm suy giảm hệ miễn dịch và gia tăng nguy cơ tái phát các bệnh lý mạn tính.

  • 23/02/2026

    U xơ tử cung có gây hiếm muộn không?

    Thực tế một số trường hợp vô sinh hoặc chậm có thai khi đi khám phát hiện mắc u xơ tử cung. Vậy có phải tất cả bệnh nhân mắc u xơ tử cung đều khó có thai hay không?

  • 23/02/2026

    Lên kế hoạch tập luyện cho năm mới: Đặt mục tiêu và thực hiện hiệu quả

    Năm mới là thời điểm lý tưởng để bắt đầu hành trình cải thiện sức khỏe và vóc dáng thông qua việc xây dựng một kế hoạch tập luyện khoa học. Việc tập luyện không chỉ giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp, cải thiện sức bền tim mạch mà còn mang lại lợi ích lâu dài như giảm nguy cơ bệnh tật, nâng cao chất lượng cuộc sống và cải thiện tâm trạng. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu sức khỏe, việc thiết lập một kế hoạch cụ thể, phù hợp với nhu cầu cá nhân và duy trì thói quen tập luyện là điều tối quan trọng. Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn cách lập kế hoạch tập luyện hiệu quả, từ việc xác định mục tiêu đến cách duy trì động lực lâu dài.

  • 22/02/2026

    Những tác hại kinh hoàng với sức khoẻ khi dùng thực phẩm bẩn

    Thực phẩm ôi thiu, nhiễm bẩn, kém vệ sinh là một trong những nguyên nhân chính gây ra các bệnh đường tiêu hóa, ung thư, dậy thì sớm, thai dị tật... và gây nhiều hệ lụy lâu dài cho sức khoẻ.

  • 22/02/2026

    Tầm soát sức khỏe định kỳ: Đầu tư cho một năm mới an lành và hạnh phúc

    Năm mới là thời điểm lý tưởng để thiết lập mục tiêu mới cho bản thân, trong đó sức khỏe toàn diện của bản thân và gia đình là yếu tố thiết yếu và là tài sản quý giá nhất, tạo nền tảng cho niềm vui và thành công. Để có sức khỏe tốt, việc chủ động phòng bệnh thông qua tầm soát sức khỏe định kỳ là một khoản đầu tư thông minh và quan trọng bậc nhất. Bài viết này sẽ phân tích tầm quan trọng, lợi ích cụ thể và các bước thực hiện tầm soát sức khỏe hiệu quả, giúp bạn đón một năm mới khỏe mạnh và tràn đầy năng lượng.

  • 21/02/2026

    Thảo mộc và trà – Sự hòa hợp tự nhiên trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe toàn diện

    Trong nhịp sống hiện đại đầy áp lực, xu hướng tìm về các giá trị tự nhiên như một giải pháp bền vững để chăm sóc sức khỏe. Trong số đó, sự kết hợp tinh tế giữa thảo mộc và trà không chỉ đơn thuần tạo nên một thức uống giải khát, mà còn là giải pháp "thanh nhiệt", cân bằng cơ thể dựa trên nền tảng y học cổ truyền.

Xem thêm