Bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em: Những điều cần biết
Bệnh tim bẩm sinh là những dị tật tim và mạch máu tạo nên do những bất thường trong bào thai ở tháng thứ 2-3 của thai kỳ, vào giai đoạn hình thành các mạch máu lớn từ ống tim nguyên thủy. Những tổn tổn thương này có thể bao gồm cả sự tạo thành những lỗ ở tim, thiếu bộ phận hay dị dạng van tim.
Nguyên nhân gây dị tật tim
Hiện tượng này thường xảy ra ngay sau khi được thụ thai. Nguyên nhân gây bệnh hiện nay chưa rõ ràng. Một yếu tố nguy cơ có thể làm tăng khả năng mắc bệnh tim bẩm sinh đó là tiền sử gia đình. Nếu trong gia đình đã có thành viên mắc bệnh thì nguy cơ đứa trẻ sinh ra trong gia đình đó cũng sẽ bị bệnh tim bẩm sinh cao hơn. Nguy cơ tăng từ 1/100 trẻ em lên tới tỷ lệ 3/100 trẻ em mắc bệnh.
Những dị tật này ảnh hưởng tới hoạt động của tim như thế nào
Tình trạng dị tật thường ảnh hưởng đến tim theo 2 con đường:
Dịch tễ học bệnh tim bẩm sinh
Cứ 100 trẻ được sinh ra hàng năm thì có 1 trẻ bị mắc bệnh tim bẩm sinh. Đây là một bệnh bẩm sinh thường gặp nhất ở đối tượng trẻ sơ sinh. Các triệu chứng đôi khi rất nghiêm trọng, một số trường hợp lại biểu hiện ở giai đoạn muộn hơn. Bệnh tim bẩm sinh khá phổ biến ở những trẻ đã bị mắc một số bệnh khác như là hội chứng Down.
Phân loại bệnh tim bẩm sinh
Bệnh tim bẩm sinh được chia làm 2 nhóm: cyanotic (bệnh tim tím tái) và acyanotic (bệnh tim không tím tái).
Bệnh nhân bị mắc chứng cyanotic thường có triệu chứng tím tái trên da gây ra do máu không được cung cấp đủ oxy. Các triệu chứng của bệnh tim bẩm sinh loại cyanotic bao gồm tứ chứng Fallot (thông liên thất, hẹp động mạch phổi, động mạch chủ cưỡi ngựa trên vách liên thất, dày thất phải), thân chung động mạch (Truncus arteriosus-TA) là bệnh trong đó một mạch máu duy nhất đi ra khỏi bên phải và trái tâm thất thay vì hai mạch bình thường (động mạch phổi và động mạch chủ), chuyển gốc động mạch chủ (gốc động mạch chủ gắn vào vị trí của động mạch phổi còn gốc động mạch phổi gắn vào vị trí của động mạch chủ) và hẹp van ba lá.
Ngược lại, những bệnh nhân thuộc nhóm acyanotic lại không có những biểu hiện trên. Các biểu hiện bệnh của nhóm acyanotic bao gồm: Còn ống động mạch (patent ductus arteriosus) là tình trạng các ống động mạch không đóng dẫn đến lưu lượng máu bất thường giữa động mạch chủ và động mạch phổi; Thông liên nhĩ (atrial septal defect) là bệnh khiến cho máu chảy giữa hai buồng tim nhĩ trái và nhĩ phải trộn vào nhau: và thông liên thất (ventricular septal defect) khiến cho máu giữa hai buồng thất trộn vào nhau.
Theo thống kê có khoảng 35 loại bệnh tim bẩm sinh từ đơn giản đến phức tạp. Một loại bệnh lại có thể có biểu hiện khác nhau hoặc đa số là kết hợp giữa các triệu chứng trên. Những bệnh phổ biến nhất bao gồm: thông liên thất, tứ chứng Fallot, chuyển gốc động mạch chủ, thông sàn nhĩ thất (khiếm khuyết vách nhĩ thất) và hẹp eo động mạch chủ.
Chẩn đoán trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh
Đôi khi các bác sỹ có thể chẩn đoán trước bệnh tim bẩm sinh trước khi đứa trẻ được sinh ra sử dụng phương pháp siêu âm tim thai. Tuy nhiên, các khiếm khuyết về tim thường được phát hiện vài ngày hay thậm chí vài tháng sau sinh khi các triệu chứng đã trở nên rõ ràng.
Để chẩn đoán nếu một đứa trẻ bị mắc bệnh tim bẩm sinh sau khi sinh ra, các bác sỹ về tim mạch sẽ dựa vào các xét nghiệm và khai thác tiền sử gia đình.
Chụp X quang ngực sẽ cung cấp cho bác sỹ các hình ảnh về phổi cũng như là hình dạng, kích thước và vị trí tim của đứa trẻ. Đo điện tâm đồ (ECG) sẽ cho các thông số về nhịp tim. Siêu âm tim cho thấy hình ảnh cấu trúc của tim và tình trạng hoạt động của nó. Việc siêu âm tim cũng tương tự như phương pháp siêu âm thai mà các bà mẹ hay làm để theo dõi sự phát triển của đứa trẻ trong quá trình mang thai.
Ngoài ra bác sỹ cũng có thể sử dụng phương pháp thông hệ tuần hoàn (cardiac catheterization). Đây là một test xâm lấn sử dụng một ống gọi là ống thông tim đặt vào mạch máu ở phần trên cùng của chân gần háng hay trong cánh tay và sau đó được luồn tới tim. Ống này được dùng để đo áp lực và mức oxy. Một chất màu cũng được bỏ vào ống để cho thấy hình ảnh và kích thước của mạch máu và các buồng tim, giúp các bác sỹ biết được máu được bơm qua tim và phổi như thế nào.
Triệu chứng của bệnh tim bẩm sinh
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ sẽ thường gặp vấn đề trong việc ăn uống và tăng cân, nhịp thở nhanh hơn bình thường, vã mồ hôi khi ăn và khi ngủ. Những triệu chứng này có liên quan đến bệnh suy tim. Một vài trẻ da sẽ chuyển sang tím tái (hội chứng xanh tím) hay huyết áp bất thường. Không phải tất cả mọi trẻ đều biểu hiện triệu chứng, một số khác lại thường bị kết hợp các dạng bệnh. Đôi khi, tiếng thổi ở tim có thể cho thấy biểu hiện bệnh.
Loại bệnh tim bẩm sinh phổ biến nhất là gì
Loại bệnh tim phổ biến nhất có ảnh hưởng đến khả năng lưu thông của máu qua tim bao gồm: thông liên nhĩ/thất và còn ống động mạch. Đối với các bệnh này, máu chảy từ phần trái của tim sang phần bên phải dẫn đến quá nhiều máu chảy vào phổi.
Điều trị bệnh tim bẩm sinh
Nhiều bệnh tim bẩm sinh có thể được điều trị thành công thường là ở đối tượng trẻ sơ sinh, thậm chí khi còn trong bào thai. Mặc dù một số bệnh tim bẩm sinh thường không thể khỏi được nhưng chúng vẫn có thể được kiểm soát tốt giúp cho trẻ có thể sinh hoạt bình thường.
Việc điều trị phụ thuộc vào vị trí tim bị tổn thương. Một số trẻ sẽ không cần điều trị nếu tác động của bệnh lên tuần hoàn máu là nhỏ. Một số khác sẽ cần được điều trị hoặc sử dụng biện pháp can thiệp như đặt nong tim hay phẫu thuật. Một số khiếm khuyết sẽ không được điều trị ngay mà đợi cho tới khi trẻ lớn hơn và một số trường hợp bệnh lại được điều trị theo giai đoạn.
Góc nhìn tổng quan về điều trị tim bẩm sinh ở trẻ em
Với những tiến bộ trong khoa học công nghệ và những hiểu biết về bệnh tim bẩm sinh, chúng ta có thể lạc quan hơn trong vấn đề điều trị căn bệnh này ở đối tượng trẻ em. Nguy cơ về những tác dụng không mong muốn và biến chứng trong điều trị thấp hơn nhiều so với trước kia. Trẻ em bị những bệnh tim dạng đơn giản sẽ có thể sống một cuộc sống bình thường trong khi những trẻ bị những dạng bệnh phức tạp hơn thường sẽ phải đối mặt với nhiều thử thách hơn.
Nguy cơ liên quan đến bệnh tim bẩm sinh: viêm nội tâm mạch nhiễm trùng do vi khuẩn (bacterial endocarditis)
Một số bệnh tim sẽ dẫn đứa trẻ tới nguy cơ cao mắc chứng viêm nôi tâm mạc nhiễm trùng do vi khuẩn là một dạng nhiễm trùng ở van tim. Để ngăn ngừa tình trạng này cần phải sử dụng kháng sinh trước khi phẫu thuật hay khi điều trị các bệnh liên quan đến răng miệng.
Để hạn chế những dị tật bẩm sinh cho em bé các bà mẹ cần duy trì một lối sống lành mạnh, bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng, cũng như đi khám thai định kì và thực hiện các test sàng lọc trước sinh theo chỉ định của bác sỹ.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Dự phòng dị tật bẩm sinh trước và trong khi mang thai
Thời tiết chuyển lạnh là khoảng thời gian khiến nhiều bậc phụ huynh bắt đầu lo lắng và trăn trở về sức khỏe của con cái. Chúng ta thường có suy nghĩ rằng mùa đông chỉ mang theo những cơn cảm lạnh hay ho sốt thông thường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các bệnh lây nhiễm nguy hiểm, bao gồm cả những căn bệnh do muỗi truyền như sốt xuất huyết, vẫn luôn rình rập và đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của trẻ nhỏ, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á. Để con có một mùa đông thực sự khỏe mạnh và trọn vẹn, việc trang bị kiến thức về tiêm chủng cũng như các biện pháp phòng bệnh tại nhà là điều vô cùng cần thiết. Bài viết dưới đây sẽ giúp cha mẹ hiểu rõ hơn về cách tạo ra một "lớp áo giáp" vững chắc, nhằm bảo vệ con yêu khỏi những tác nhân gây bệnh trong giai đoạn thời tiết khắc nghiệt này.
Uống cà phê có thể góp phần bổ sung nước cho cơ thể mỗi ngày, nhưng điều quan trọng là phải uống điều độ. Mặc dù cà phê được tính vào lượng chất lỏng cần thiết, nhưng uống quá nhiều có thể dẫn đến mất nước do tác dụng lợi tiểu của nó.
Mùa đông ở miền Bắc nước ta thường mang theo cái lạnh thấu xương, kèm theo độ ẩm cao khiến nhiều gia đình, đặc biệt là người già và trẻ nhỏ, dễ bị nhiễm lạnh và mắc bệnh. Ở một đất nước có mùa đông giá rét và tuyết rơi dày đặc như Nhật Bản, người dân nơi đây từ lâu đã đúc kết được những phương pháp giữ ấm vô cùng độc đáo, kết hợp giữa truyền thống và các sản phẩm hiện đại. Những bí quyết này không chỉ giúp cơ thể luôn ấm áp, phòng tránh bệnh tật mà còn rất tiết kiệm và dễ dàng áp dụng. Dưới đây là những mẹo giữ ấm chuẩn phong cách Nhật Bản mà các bậc cha mẹ Việt có thể học hỏi và áp dụng ngay cho tổ ấm của mình.
Một nghiên cứu mới công bố cho thấy chỉ cần ngửi mùi socola đen trước và trong khi tập luyện cũng có thể giúp cải thiện hiệu suất tập gym, đồng thời làm giảm cảm giác đói bụng sau buổi tập.
Sau một ngày dài tất bật với công việc cơ quan và chăm lo cho con cái, khoảng thời gian tĩnh lặng lúc đêm muộn thường là lúc các bậc phụ huynh mới thực sự có giây phút thư giãn cho riêng mình. Đi cùng với một bộ phim hay hay những trang mạng xã hội thường là thói quen nhâm nhi một bát mì nóng hổi, một chút bánh kẹo ngọt hay những món đồ ăn vặt còn sót lại trong tủ lạnh. Sự chiều chuộng bản thân này tưởng chừng như vô hại và giúp giải tỏa căng thẳng rất tốt, nhưng thực chất lại đang âm thầm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể. Việc thường xuyên nạp thức ăn vào thời điểm cơ thể cần nghỉ ngơi sẽ phá vỡ nhịp độ tự nhiên, kéo theo hàng loạt rủi ro về bệnh lý và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta.
Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.
Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.
Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.