Do tim đập nên dòng màu chảy qua mạch sẽ không ổn định mà sẽ theo từng nhịp, và dòng chảy của máu cũng như áp lực lên thành mạch sẽ dao động theo từng thời điểm.
Vì lý do này, chỉ số huyết áp của một người thường có hai con số khác nhau, gọi là huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Hai con số này biểu thị các điểm áp lực lên mạch máu khác nhau khi máu được bơm vào các mạch máu.
Cả áp lực tâm thu và tâm trương đều quan trọng. Nếu chỉ số huyết áp cao thì có thể bạn đang bị cao huyết áp. Còn nếu chỉ số huyết áp quá thấp thì có thể đang không có đủ máu bơm đến các cơ quan trọng yếu như não.

Huyết áp tâm thu là gì?
Áp lực gây ra bởi dòng máu chảy qua mạch máu không phải một hằng số mà có thể biến đổi và luôn biểu thị chức năng của tim.
Khi tim đang hoạt động tích cực (trong thì tâm thu), tim sẽ đẩy máu vào động mạch. Điều này làm cho áp lực lên thành mạch tăng lên. Áp lực đạt đỉnh khi tim co và đẩy máu đi gọi là huyết áp tâm thu.
Huyết áp tâm thu bình thường khi một người ngồi yên là 120 mmHg hoặc thấp hơn.
Huyết áp tâm thu cao
Khi một người đang tập luyện, đang bị căng thẳng, hoặc bất cứ lúc nào khi tim bị kích thích đập mạnh hơn lúc nghỉ ngơi, lực co bóp của tim tăng lên - và áp lực tâm thu tăng lên. Sự gia tăng huyết áp tâm thu xảy ra trong những tình trạng này là hoàn toàn bình thường. Điều này giải thích tại sao việc đo huyết áp trong thời gian nghỉ ngơi trước khi chẩn đoán tăng huyết áp là rất quan trọng.
Huyết áp tâm thu thấp
Khi huyết áp tâm thu thấp hơn bình thường, đây được gọi là hạ huyết áp tâm thu. Hạ huyết áp tâm thu đủ nặng có thể gây chóng mặt, choáng váng, ngất, hoặc nếu kéo dài có thể gây suy tạng. Hạ huyết áp tâm thu có thể xảy ra nếu lượng máu trở nên quá thấp như khi mất nước nghiêm trọng hoặc chảy máu nặng, nếu cơ tim trở nên quá yếu để đẩy máu, thường gặp trong bệnh cơ tim hoặc nếu các mạch máu bị giãn quá mức. Một tình trạng phổ biến gây hạ huyết áp tâm thu là hạ huyết áp tư thế đứng.
Huyết áp tâm trương là gì?
Huyết áp tâm trương là áp lực mà máu tác động lên các mạch giữa các nhịp tim, nghĩa là khi tim không bơm máu vào động mạch. Sau khi tim kết thúc một lần co bóp tống máu đi, tâm thất thư giãn trong giây lát để được nạp lại máu, chuẩn bị cho cơn co tiếp theo. Giai đoạn tâm thất giãn tạm thời này được gọi là tâm trương, và huyết áp trong thì tâm trương được gọi là huyết áp tâm trương.

Huyết áp tâm trương bình thường, cao và thấp:
Tầm quan trọng của việc đo huyết áp trong trạng thái thư giãn
Mức huyết áp phụ thuộc vào hoạt động của tim và độ đàn hồi của động mạch và như ta đã thấy, huyết áp luôn biến động và đang tích cực thay đổi từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác khi tim quay vòng giữa thì tâm thu và tâm trương.
Ngoài ra, huyết áp tâm thu và tâm trương của bạn có thể thay đổi đáng kể từ phút này sang phút khác tùy thuộc vào trạng thái hoạt động, trạng thái căng thẳng, lượng nước của cơ thể và một số các yếu tố khác.
Điều này có nghĩa là, để chẩn đoán chính xác bệnh tăng huyết áp, điều quan trọng là phải kiểm soát càng nhiều yếu tố bên ngoài càng tốt. Tiêu chuẩn được các chuyên gia khuyên dùng là việc đo huyết áp phải được thực hiện trong một môi trường yên tĩnh, ấm áp sau khi bạn nghỉ ngơi yên tĩnh trong ít nhất năm phút. Đo huyết áp theo cách này là một thách thức trong các phòng khám, bị quấy rầy ngày nay, khiến cho việc chẩn đoán chính xác bệnh tăng huyết áp trở thành một thách thức nhiều hơn. Đây là lý do tại sao hầu hết các chuyên gia ngày nay khuyên bạn nên ghi lại huyết áp trong một thời gian dài, cùng các theo dõi chỉ số trên xe cấp cứu, trước khi đưa ra chẩn đoán tăng huyết áp.
Áp lực máu tâm thu và tâm trương đại diện cho áp lực trong các mạch máu trong các phần khác nhau của chu kỳ tim. Đo chính xác cả hai giá trị này rất quan trọng trong chẩn đoán và kiểm soát tăng huyết áp.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Hiểu rõ các chỉ số khi đo huyết áp
Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.
Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Cải xoong là loại rau mùa đông, tuy nhiên, ít ai biết rằng loại rau này lại được mệnh danh là một 'siêu thực phẩm'. Vậy thực sự cải xoong có tác dụng gì?
Viêm tủy xương là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính ở xương, bao gồm tủy xương và các mô mềm xung quanh. Bệnh thường do các loại vi khuẩn như tụ cầu vàng hoặc liên cầu gây ra. Những vi khuẩn này xâm nhập vào xương thông qua đường máu, sau khi cơ thể bị một trong các tình trạng nhiễm khuẩn tại một vùng nào đó.