Theo BS. Lê Minh Thượng, Bệnh viện Nhi đồng 1; dưới đây là một số mũi tiêm của các vắc xin thường dùng cho trẻ dưới 12 tháng:
1. Vắc xin ngừa lao (BCG):
Chỉ tiêm một liều duy nhất khi trẻ mới sinh. Trong trường hợp chưa tiêm, sau khi xuất viện về, phụ huynh cần sớm liên hệ với Trạm Y tế Phường/Xã nơi mình ở để được theo dõi tiêm cho trẻ.
2. Vắc xin ngừa viêm gan siêu vi B:
Liều đầu sẽ tiêm ngay khi trẻ mới sinh. Sau đó, trẻ sẽ tiêm cùng với các vắc xin khác khi trẻ đủ 2 tháng tuổi.
Lưu ý: Khi sử dụng các vắc xin phối hợp (thường gọi là 5 trong 1, 6 trong 1) cần phân biệt:
- Hai loại vắc xin 6 trong 1 hiện có (Infanrix hexa, Hexaxim) chứa các thành phần ngừa đủ 6 bệnh: bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm màng não do vi trùng H. influenzae và viêm gan b.
- Đối với vắc xin 5 trong 1, hiện có 2 loại:
+ Vắc xin của Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia tiêm miễn phí cho trẻ có các thành phần ngừa chỉ 5 bệnh: bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm màng não do vi trùng H. influenzae và viêm gan siêu vi B. Do đó trẻ phải uống/chích thêm vắc xin để ngừa bại liệt.
+ Vắc xin của các cơ sở y tế tiêm dịch vụ cho trẻ phổ biến hiện nay là Pentaxim có các thành phần chỉ ngừa 5 bệnh: bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm màng não do vi trùng H. influenzae. Do đó trẻ phải chích thêm vắc xin để ngừa viêm gan siêu vi B.
Các vắc xin nầy cần tiêm loạt cơ bản 3 liều đầu tiên cách nhau 1 tháng như Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia đề nghị. Sau đó, trẻ sẽ tiêm nhắc liều thứ 4 (thông thường là 12 tháng sau liều thứ 3). Tuỳ theo loại vắc xin dùng khi tiêm nhắc và thời điểm trẻ được tiêm nhắc mà ta sẽ dùng bao nhiêu loại vắc xin để tiêm cho trẻ. Phụ huynh cần tham khảo ý kiến tư vấn của nhân viên y tế để quyết định chọn lựa và tiêm đủ cho trẻ.

Cơ thể trẻ sẽ tạo ra kháng thể để chống lại bệnh nhờ vắc xin đưa vào cơ thể trẻ
3. Vắc xin ngừa bạch hầu, uốn ván, ho gà:
4. Vắc xin ngừa bại liệt:
Trẻ sẽ được dùng khi tiêm ngừa chung với các bệnh khác. Hiện nay có 2 loại:
- Loại vắc xin uống (thường biết với tên Sabin) sẽ dùng cùng lúc với vắc xin 5 trong 1 do Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia cung cấp
- Loại vắc xin chích có chung trong thành phần của vắc xin 5 trong 1 dịch vụ hoặc vắc xin 6 trong 1. Khi dùng các vắc xin nầy thì không cần uống vắc xin Sabin.
5. Vắc xin ngừa viêm màng não do vi trùng H. influenzae:
Phổ biến hiện nay là có chung trong thành phần của các vắc xin 5 trong 1 hoặc vắc xin 6 trong 1. Do đó dùng chung theo lịch như trên nêu.
Riêng loại vắc xin đóng rời chỉ có thành phần ngừa viêm màng não do H. influenzae hiện nay sẽ được sử dụng trong những trường hợp đặc biệt theo chỉ định của bác sĩ.
6. Vắc xin ngừa bệnh do vi trùng phế cầu:
Dùng để ngừa các bệnh viêm màng não, viêm phổi,… do loại vi trùng nầy.
Số liều sử dụng tùy theo lứa tuổi của trẻ:
Trẻ dưới 6 tháng tuổi: cần 4 liều. Khi trẻ đủ 2 tháng sẽ tiêm liều đầu tiên. Sau đó sẽ tiêm tiếp 2 liều, cách nhau ít nhất 1 tháng. Liều thứ 4 sẽ tiêm cho trẻ vào 6 đến 12 tháng sau.
Trẻ hơn 6 tháng và dưới 12 tháng tuổi: tiêm 3 liều. Liều đầu lúc trẻ đủ 6 tháng. Liều thứ 2 sau đó ít nhất 1 tháng. Liều thứ 3 sẽ tiêm cho trẻ vào 6 đến 12 tháng sau.
Trẻ hơn 12 tháng: tiêm 2 liều. Liều đầu lúc trẻ đủ 12 tháng tuổi. Liều thứ 2 sau đó ít nhất 2 tháng.
7. Vắc xin ngừa bệnh tiêu chảy do Rotavirus:
Hiện nay phổ biến sử dụng 3 loại: Rotarix, Rotavin và Rotateq.
Vắc xin Rotarix, Rotavin được dùng khi trẻ đủ 2 tháng và phải uống đủ số liều là 2 liều trước khi trẻ được 6 tháng.
Vắc xin Rotateq được dùng khi trẻ đủ 2 tháng và phải uống đủ số liều là 3 liều trước khi trẻ được 32 tuần tuổi.
8. Vắc xin ngừa bệnh cúm mùa:
Sử dụng khi trẻ đủ 6 tháng tuổi. Bất cứ lúc nào, việc tiêm ngừa vắc xin cúm mùa cũng bắt đầu với 2 liều cách nhau ít nhất 1 tháng. Tuy nhiên, liều dùng sẽ khác nhau: Trẻ dưới 3 tuổi chỉ dùng liều nhỏ (0,25ml); trẻ từ 3 tuổi trở lên sẽ dùng liều lớn (0,5ml). Sau đó, mỗi năm phải tiêm nhắc lại.
9. Vắc xin ngừa sởi:
Khi trẻ đủ 9 tháng tuổi, cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế có thực hiện Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia (nhất là Trạm y tế phường/xã) để được tiêm ngừa vắc xin sởi đơn thuần. Sau đó sẽ được hướng dẫn để tiêm tiếp các mũi vắc xin kết hợp có chứa thành phần sởi.
Hội chứng tim do rượu bia trong kỳ nghỉ là tình trạng rung nhĩ do uống quá nhiều rượu gây ra. Trong mùa lễ hội hoặc các đám cưới, lễ tốt nghiệp, hoặc các dịp khác khi lượng rượu thường được tiêu thụ nhiều hơn bình thường, những người trẻ tuổi khỏe mạnh thường dễ bị các cơn rung nhĩ . Bài viết này thảo luận về rung nhĩ, nguyên nhân gây ra nó và mối liên hệ với việc tiêu thụ rượu.
Tiêm trẻ hóa da được quảng bá là giải pháp làm đẹp nhanh chóng, ít xâm lấn. Tuy nhiên, các bác sĩ cảnh báo phương pháp này tiềm ẩn nhiều biến chứng nguy hiểm nếu thực hiện sai cách.
Viện Y học ứng dụng Việt Nam hợp tác cùng Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) thực hiện Dự án Nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả của sản phẩm Sữa chua ăn Vinamilk Probi bổ sung Probiotics đối với tình trạng sức khỏe con người”.
Chocolate từ lâu đã không còn đơn thuần là một món kẹo ngọt thông thường, mà đã trở thành biểu tượng đầy ý nghĩa của tình yêu và sự lãng mạn. Nhất là vào dịp Valentine, những viên chocolate luôn là lựa chọn hàng đầu để các cặp đôi gửi gắm tình cảm và sự quan tâm chân thành dành cho nhau.
Sinh mổ là một can thiệp y khoa quan trọng và cần thiết trong nhiều trường hợp, giúp mẹ và bé vượt qua những tình huống đặc biệt trong hành trình vượt cạn. Tuy nhiên, trẻ sinh mổ có nguy cơ bị thiếu hụt nhiều yếu tố miễn dịch tự nhiên hơn so với trẻ sinh thường khiến con phải đối mặt với nhiều rủi ro về sức khoẻ.
Quercetin là một hợp chất tự nhiên thuộc nhóm flavonoid – có khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ, kháng viêm và điều hòa miễn dịch.
Mọi người mặc quần áo bó sát hoặc chật vì nhiều lý do, bao gồm sự thoải mái, thời trang hoặc để tăng sự tự tin. Tuy nhiên, khi mặc quần áo quá chật quá thường xuyên, nó có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe mà mọi người không hề hay biết.
Có một số loại xét nghiệm máu có thể được sử dụng để chẩn đoán thiếu máu. Trong đó công thức máu toàn phần là xét nghiệm phổ biến nhất, các loại xét nghiệm khác tuy ít phổ biến hơn nhưng cũng có thể hữu ích trong việc giúp xác định nguyên nhân gây thiếu máu. Cùng tìm hiểu về những loại xét nghiệm này qua bài viết sau!