10 sự thật về bệnh ung thư máu
Ung thư máu hay bệnh bạch cầu (leukemia) là một khái niệm dùng để chỉ 4 loại ung thư tủy xương và tế bào máu khác nhau. Năm 2015, tại Mỹ, thống kê của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, có khoảng 54.270 người được chẩn đoán bị ung thư máu. Và có khoảng 327.000 người sống chung với bệnh ung thư máu hoặc tình trạng bệnh thuyên giảm, theo thống kê của Hiệp hội Ung thư máu và ung thư bạch huyết Hoa Kỳ. Dưới đây là 10 sự thật bạn nên biết về căn bệnh này.
Có 4 loại ung thư máu. Đó là:
Bệnh ung thư máu khởi phát từ tủy xương
Cơ thể sản xuất ra đa số các loại tế bào máu (từ tế bào bạch cầu chống lại bệnh nhiễm trùng, tế bào hồng cầu vận chuyển oxy cho đến tế bào tiểu cầu hỗ trợ đông máu) tại tủy xương. Tất cả các tế bào máu lúc đầu đều chưa trưởng thành và sẽ phát triển thành tế bào trưởng thành để giúp cơ thể khỏe mạnh. Nhưng với những người bị bệnh ung thư máu cấp tính, các tế bào máu sẽ không phát triển theo chu kỳ trưởng thành thông thường. Và với những người bị bệnh ung thư máu mãn tính, những tế bào máu này có trưởng thành, nhưng sẽ bị lấn át bởi các tế bào bất thường, trưởng thành hơn. Và ở cả 2 dạng ung thư, các tế bào bất thường sẽ lấn át các tế bào khỏe mạnh, không chỉ ở trong tủy xương, mà còn ở trong dòng máu và các phần khác của hệ miễn dịch.
Loại ung thư máu bạn mắc phải sẽ phụ thuộc vào loại tế bào máu bị ung thư. Trong bệnh ung thư máu cấp tính thể lympho (ALL), nguyên bào bạch huyết (lymphoblasts) – cũng tức là tế bào bạch cầu chưa trưởng thành sẽ bị ảnh hưởng. Trong bệnh bạch cầu myeloid mãn tính (CML), bạch cầu hạt sẽ là tế bào máu bị ảnh hưởng.
Với các dạng bệnh cấp tính (AML và ALL) là loại ung thư phát triển nhanh, khiến tủy xương không thể sản xuất ra đủ tế bào máu khỏe mạnh. Nhưng với dạng bệnh mãn tính (CML và CLL), bệnh sẽ tiến triển chậm hơn. Theo thời gian, người mắc bệnh sẽ vẫn có đủ tế bào máu trưởng thành để duy trì chức năng của hệ miễn dịch.
Tỷ lệ sống khi mắc bệnh ung thư máu đang ngày một tăng lên
Trên thực tế, số người sống cùng với bệnh ung thư máu trong ít nhất 5 năm đã tăng gấp 4 lần, từ 14% năm 1960 lên khoảng 60% vào giai đoạn 2004-2010, theo thống kê của Hiệp hội ung thư máu và ung thư bạch huyết Hoa Kỳ.
Tuổi tác là một yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư máu
Mặc dù bệnh ung thư máu thường ảnh hưởng đến những người trên 55 tuổi, nhưng đây cũng là loại ung thư phổ biến nhất ở trẻ em dưới 15 tuổi. Theo Hiệp hội Huyết học Hoa Kỳ, các yếu tố nguy cơ khác của bệnh ung thư máu bao gồm:
Triệu chứng của bệnh ung thư máu sẽ phụ thuộc vào loại ung thư và giai đoạn ung thư.
Triệu chững có thể bao gồm:
Đa số những người bị bệnh bạch cầu myoleid mãn tính (CML) được coi là mắc bệnh mãn tính (chứ không phải là bệnh chết người).
Trên thực tế, những người bị bệnh bạch cầu myeloid hiện nay có thể sống một cuộc sống bình thường bằng việc sử dụng thuốc ức chế men tyrosine kinase. Những loại thuốc, còn được gọi là TKI, có thể ức chế một loại gen gọi là BCR – ABL, là gen có thể khiến các tế bào ung thư nhân lên rất nhanh. Những loại thuốc này bao gồm Gleevec (imatinib), Sprycel (dasatinib), Tasigna (nilotinib), Bosulif (bosutinib), và Iclusig (ponatinib). Bằng việc uống những loại thuốc này, bạn có thể khiến bệnh bạch cầu myeloid mãn tính thuyên giảm và có thể sống thêm từ 15 - hơn 20 năm nữa.
Các phương pháp điều trị mới đang rất hứa hẹn.
Hiện nay, có rất rất nhiều tiến bộ mới trong việc điều trị ung thư máu. Những biện pháp điều trị mới bao gồm phương pháp điều trị sử dụng kháng thể đơn dòng và CAR tế bào T, một dạng miễn dịch trị liệu có thể chống lại cả bệnh ung thư máu thể lympho cấp tính và mãn tính (ALL và CLL). Phương pháp điều trị đích được gọi là chất ức chế FLT3 đang được nghiên cứu để điều trị bệnh bạch cầu myeloid cấp tính (AML) và thuốc ức chế thụ thể tế bào B đang được nghiên cứu để điều trị ung thư máu thể lympho mãn tính (CLL).
Các dạng ung thư máu cấp tính cần được điều trị ngay lập tức. Một loại thuốc sử dụng đường uống để điều trị bệnh bạch cầu myeloid mãn tính (CML) có hiệu quả rất cao và nên bắt đầu được uống càng sớm càng tốt , ngay sau khi được chẩn đoán. Ở giai đoạn sớm của bệnh ung thư máu thể lympho mãn tính (CLL), bạn có thể sống mà không cần điều trị trong rất rất nhiều năm. Để đảm bảo rằng bạn đang nhận được phương pháp điều trị ung thư tốt nhất, hãy cân nhắc đến việc đi khám tại một cơ sở y tế chuyên khoa khác, với một bác sỹ khác, để có thể đưa ra được kết luận cuối cùng.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Nguyên nhân gây ung thư máu và cách phòng tránh
Uống trà dâm bụt đều đặn suốt cả ngày có thể giúp hạ huyết áp, đặc biệt là đối với những người bị tăng huyết áp giai đoạn. Việc tạo thói quen uống hai tách trà trở lên mỗi ngày có thể tăng cường hiệu quả của nó .
Bổ sung đủ vitamin A không chỉ giúp "thắp sáng" đôi mắt mà còn thiết lập một hàng rào miễn dịch vững chắc cho toàn bộ cơ thể.
Theo thống kê của Phân hội tăng huyết áp Việt Nam, số người bị tăng huyết áp gia tăng nhanh và ngày càng trẻ hóa, cứ 4 người trên 25 tuổi thì có 1 người bị huyết áp cao, tỷ lệ 25%, một con số đáng báo động.
Bữa ăn vội vã cùng thói quen vừa ăn vừa lướt điện thoại, máy tính sẽ gây áp lực lên hệ tiêu hóa, khiến việc giảm cân khó khăn. Khi ăn chậm nhai kỹ giúp cơ thể nhận biết tín hiệu no đúng lúc, từ đó kiểm soát lượng calo nạp vào và hỗ trợ giảm cân bền vững.
Prostaglandin là các hợp chất giống hormone - “thủ phạm” gây đau bụng kinh cho phái nữ. Ngoài ra, prostaglandin cũng gây ra nhiều ảnh hưởng khác đối với cơ thể, cùng tìm hiểu về hợp chất thú vị này qua bài viết sau!
Yến mạch là lựa chọn giàu chất xơ cho bữa sáng nhưng cần ăn đúng cách và khẩu phần phù hợp để phát huy lợi ích.
Những thói quen buổi sáng có thể quyết định rất lớn đến sức khỏe và năng suất làm việc của chúng ta trong ngày. Một số thói quen này tưởng chừng vô hại, nhưng nếu không được thay đổi, chúng có thể gây ra những tác động tiêu cực cho sức khỏe về lâu dài. Thay đổi những thói quen buổi sáng phổ biến này có thể giúp bạn giữ được sức khỏe tốt hơn và năng suất cao hơn trong suốt cả ngày. Cùng tìm hiểu về 10 thói quen phổ biến vào buổi sáng gây hại cho sức khỏe qua bài viết sau đây!
Viêm đại tràng giả mạc là bệnh lý có thể xuất hiện sau khi sử dụng kháng sinh, đặc biệt khi dùng kéo dài hoặc dùng nhiều loại kháng sinh khác nhau. Bệnh thường biểu hiện bằng các triệu chứng như tiêu chảy kéo dài, đau bụng, sốt… và có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.