Phổi chúng ta được bao bọc bởi màng mỏng gọi là màng phổi. Màng phổi có hai lá: Lá thành (lót bên trong thành ngực) và lá tạng (bao bọc chính lá phổi). Bình thường giữa hai lá này chỉ có một lớp dịch mỏng (khoảng 20ml) đủ giúp cho hai lá màng phổi dễ dàng trượt lên nhau khi ta hít thở.
Nếu lượng dịch trong khoang màng phổi nhiều thì chức năng hô hấp sẽ bị cản trở. Tình trạng này gọi là tràn dịch màng phổi (TDMP), trong dân gian thường gọi đơn giản là “phổi có nước”. Nếu dịch này là mủ, ta gọi là “tràn mủ màng phổi”, còn nếu là máu sẽ được gọi là “tràn máu màng phổi”. Tràn dịch màng phổi có thể gặp ở cả người lớn lẫn trẻ em.
Các triệu chứng liên quan số lượng và vị trí của TDMP: Không có triệu chứng (nếu lượng dịch ít); Khó thở, suy hô hấp, đau âm ỉ, ho (lượng dịch nhiều); Nôn, đau bụng, chướng bụng (tụ dịch dưới phổi); Đau ngực âm ỉ, đau nhiều hơn về bên bị tràn dịch và nếu nằm nghiêng về bên đó cơn đau sẽ tăng lên.
Hình ảnh phổi bình thường và tràn dịch màng phổi.
Các triệu chứng liên quan đến các bệnh là nguyên nhân. Ví dụ: Sốt cao, biếng ăn, mệt mỏi, thở nhanh, khó thở, đau ngực (viêm phổi); Đổ mồ hôi về đêm, sốt về chiều, ho ra máu, sụt cân (lao).
Khi được chụp X-quang phổi sẽ thấy hình mờ đậm một bên bị tràn dịch hoặc cả hai bên phổi, dịch ở dưới thấp hơn, tim có thể bị đẩy sang bên đối diện.
Trong dân gian từ lâu vẫn có không ít người cho rằng “phổi có nước” là do tắm lâu, đặc biệt là tắm đêm, làm nước ngấm vào phổi. Điều này hoàn toàn không đúng. Nếu không, vận động viên bơi lội những người thường phải dầm mình mỗi ngày trong nước có khi đến chục giờ sẽ không thể có đủ sức khỏe mà trở thành những kình ngư nổi tiếng trong lòng người hâm mộ.
Tại phổi - màng phổi:
Nhiễm trùng: Sau nhiễm trùng phổi (viêm phổi, áp-xe phổi vỡ vào khoang màng phổi...) hoặc từ các cơ quan lân cận (gan, màng tim, trung thất). Nhiễm trùng này có thể do vi khuẩn (gây tràn mủ màng phổi), lao (lao màng phổi), ký sinh trùng. Đây là nguyên nhân thường gặp nhất của tràn dịch màng phổi ở trẻ em.
Ung thư: Phế quản, phổi, màng phổi tiên phát hay do di căn (hiếm gặp ở trẻ em).
Chấn thương ngực, phẫu thuật lồng ngực.
Ngoài phổi - màng phổi: Do các bệnh tim (suy tim), gan (xơ gan), thận (hội chứng thận hư, suy thận), suy dinh dưỡng nặng, bệnh tự miễn, viêm tụy cấp.
Làm thế nào để chẩn đoán bệnh?
Chẩn đoán TDMP thường không khó, nhưng tìm nguyên nhân – điều quan trọng cho điều trị - lại cần nhiều kỹ thuật chuyên sâu.
Khám lâm sàng là giai đoạn quan trọng cho chẩn đoán nhưng luôn luôn phải kết hợp với các xét nghiệm khác nhau để xác định chẩn đoán và truy tìm nguyên nhân.
X quang ngực thẳng tư thế đứng được xem là xét nghiệm thường qui trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi.
Siêu âm ngực rất nhạy để phát hiện TDMP lượng ít mà trên X quang phổi thẳng đứng đôi khi khó phát hiện. Siêu âm còn giúp bác sĩ xác định vị trí rút dịch màng phổi để chẩn đoán và điều trị.
Chọc hút dịch màng phổi là một thủ thuật thường khá an toàn với bác sĩ chuyên khoa và rất cần thiết nhằm xác định chẩn đoán và giúp tìm kiếm nguyên nhân TDMP. Thông thường bác sĩ sẽ dùng kim nhỏ, chọc vào khoang màng phổi vùng có dịch để hút. Tùy nguyên nhân và diễn biến bệnh mà dịch màng phổi có màu sắc khác nhau (trong, vàng chanh, vàng đục, mủ, nâu, đỏ máu, trắng đục như sữa...). Dịch màng phổi sẽ được xét nghiệm sinh hóa, tế bào, vi sinh hoặc các xét nghiệm chuyên biệt khác để xác định nguyên nhân.
Chọc hút dịch màng phổi không chỉ là biện pháp quan trọng giúp xác định chẩn đoán mà còn giúp bệnh nhân nhanh chóng bớt khó thở nếu lượng dịch nhiều.
Trong trường hợp tràn mủ màng phổi, người bệnh sẽ được thực hiện phẫu thuật nhỏ gọi là dẫn lưu màng phổi để đặt một ống dẫn lưu bằng nhựa xuyên qua da vào trong khoang màng phổi nhằm thoát mủ ra ngoài dần.
Tùy theo từng nguyên nhân của bệnh bác sĩ sẽ có chỉ định biện pháp điều trị phù hợp: Nếu do nhiễm khuẩn (viêm mủ màng phổi): Sử dụng kháng sinh; Nếu do lao: điều trị thuốc kháng lao; Ung thư: phẫu thuật hoặc dùng hóa chất; Điều trị suy tim, xơ gan, suy thận...
Các biện pháp hỗ trợ khác: Nghỉ ngơi tại giường; ăn những thức ăn nhẹ, dễ tiêu, đủ năng lượng và dinh dưỡng; điều trị sốt, đau ngực bằng paracetamol; tập vật lý trị liệu hô hấp: theo chỉ định của thầy thuốc.
Năm mới thường đi kèm với tiệc tùng và gặp gỡ, thức khuya, dùng đồ uống có cồn và trang điểm liên tục. Những thay đổi này có thể khiến da bị khô, xỉn màu, nổi mụn, bít tắc lỗ chân lông và lão hóa sớm. Để phục hồi làn da căng mọng, rạng rỡ sau những dịp này, việc xây dựng một quy trình chăm sóc da khoa học và chuyên sâu là điều vô cùng cần thiết. Bài viết này sẽ cung cấp các phương pháp phục hồi da hiệu quả, giúp làn da của bạn luôn khỏe mạnh và tươi trẻ.
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và đồ uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Không tập thể dục hay tập không đủ có thể gây ra nhiều tác dụng phụ cho cơ thể, bao gồm tăng cân, giảm mức năng lượng và tăng nguy cơ mắc các bệnh lý mạn tính...
Trong những kỳ nghỉ dài ngày, đặc biệt là dịp Tết Nguyên Đán, các gia đình thường có tâm lý chiều chuộng con trẻ bằng những món bánh kẹo và nước ngọt có ga đầy hấp dẫn để tăng thêm không khí vui tươi, sum vầy. Những thức uống rực rỡ sắc màu với vị ngọt đậm đà này dễ dàng mang lại cảm giác phấn khích tức thì, khiến trẻ nhỏ đặc biệt yêu thích và coi đó như một phần không thể thiếu của sự hưởng thụ.
Vào những ngày trời nồm, độ ẩm không khí vọt lên trên 95%, vi khuẩn và nấm mốc bắt đầu sinh sôi khắp nơi. Vì mũi và họng trực tiếp hít thở bầu không khí vào cơ thể, nên đây cũng là nơi dễ bị virus tấn công, dẫn đến viêm mũi dị ứng hay viêm xoang. Viện Y học ứng dụng Việt Nam khuyến nghị cách đơn giản nhất để bảo vệ cả nhà chính là chủ động vệ sinh mũi họng hằng ngày. Việc này giúp làm sạch đường thở và tạo ra một "lớp màng bảo vệ" vững chắc trước các mầm bệnh bên ngoài.
Sau tuổi 40, nguy cơ đau tim tăng do thay đổi sinh lý, lối sống và áp lực cuộc sống. Tuy nhiên, chỉ với những điều chỉnh nhỏ mỗi ngày, bạn hoàn toàn có thể bảo vệ trái tim, kiểm soát huyết áp, cholesterol và duy trì sức khỏe tim mạch lâu dài.
Kính gửi: Quý Đối tác, Quý Khách hàng cùng toàn thể cán bộ, nhân viên Viện Y học ứng dụng Việt Nam
Rối loạn tiêu hóa, chướng bụng và khó tiêu không chỉ gây cảm giác khó chịu nhất thời mà còn là dấu hiệu của việc hệ thống chuyển hóa đang bị quá tải.