Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Top củ quả tốt cho trẻ ăn dặm

Ở mỗi thời kì phát triển của bé, các mẹ thường có các chế độ ăn khác nhau cho bé nhằm bổ sung các chất dinh dưỡng trong quá trình phát triển.

Ở độ tuổi tập ăn dặm cho bé, các mẹ luôn phải thay đổi thực đơn để kích thích bé ăn và tạo cho bé cảm giác ngon miệng trong các bữa ăn. Chính vì thế, việc lựa chọn thực đơn cũng như các loại rau, quả trong các bữa ăn cho bé không hề dễ dàng. Các mẹ luôn phải đắn đo suy nghĩ. Sau đây là một số loại rau, quả tốt mà các mẹ có thể đưa vào thực đơn và chọn trong quá trình mua đồ ăn dặm cho bé.

Củ cải trắng

Củ cải trắng có vị ngọt, tính mát, tác dụng hạ khí, thanh nhiệt, chứa nhiều vitamin A, B, C, E. Hàm lượng nguyên tố vi lượng kẽm cao hơn cả thịt, cá. Củ cải trắng nấu chín chứa nhiều vitamin A, C, K, B2, B6, calcium, sắt, mangan, folat, cũng như nhiều thành phần hoạt chất có ảnh hưởng tốt đối với sức khỏe.

Đây được xem là 'nhân sâm' cho bé ở lứa tuổi ăn dặm. Đồng thời, trong củ cải trắng chứa một ít chất xơ và protein rất tốt cho sức khỏe của bé. Khi nấu, củ cải có vị ngọt tự nhiên, giúp món cháo của bé thêm thơm ngon đậm đà, hấp dẫn, kích thích khẩu vị của bé.

Bên cạnh đó, củ cải cung cấp cho bé các dưỡng chất cần thiết, phát huy tác dụng trong việc chữa ho, tiêu đờm, phòng chống vi-rút gây hại các mẹ nên chọn củ cải trong danh sách các loại rau tốt cho bé ăn dặm.

Bí đỏ

Với thành phần dinh dưỡng phong phú của mình, từ lượng đường, tinh bột, đến lượng vitamin A, C cao, bí đỏ được xem là thực phẩm ăn dặm rất tốt cho cơ thể của bé. Ngoài ra, bí đỏ có chứa lượng carôtin phong phú và các vitamin nhóm B giúp bé phát triển khỏe mạnh.

Trong một bát bí đỏ nấu chín chứa: Vitamin A (12230 IU), vitamin C (11,5mg), vitamin K (2mg), kali (364mg), photpho (74mg), megiê (22mg), canxi (37mg), sắt (1,4mg) cùng với một lượng chất kẽm, mangan và chất xơ. Khi nấu chín, bí có vị ngọt béo, bởi vậy sẽ rất ngon miệng và kích thích bé ăn.

Qủa dứa

Dứa rất giàu chất xơ, các enzym kích thích tiêu hóa, canxi và kali. Dứa còn dồi dào mangan – chất cần thiết để xây dựng hệ xương. Vitamin C trong dứa cung cấp cho bé sức đề kháng tốt, giúp cơ thể tăng cường khả năng hấp thụ sắt. Ngoài ra, chất bromelain có trong dứa có tác dụng giúp bé phòng ngừa ho. Tuy nhiên, nhiều bà mẹ lại 'phớt lờ' loại trái cây này trong thực đơn ăn dặm của bé. Như thế thật đáng tiếc!

Hãy cho bé làm quen với loại trái thơm ngon này bằng cách ép lấy nước cho bé uống, hoặc có thể cho bé ăn dứa dạng thái hạt lựu nhỏ, ăn bốc hoặc dứa với khoanh to hơn, tùy độ tuổi của bé.

Qủa bơ

Trong bơ có một hàm lượng chất béo không no rất dồi dào, cần thiết cho sự phát triển trí não của trẻ sơ sinh, đặc biệt là lứa tuổi ăn dặm. Trong bơ có các chất dinh dưỡng như: Folate, các vitamin tự nhiên như C, B5, B6, E, kali, chứa nhiều nhiều a-xít béo không bão hòa có lợi cho sức khỏe, giàu chất xơ, nhiều protein. Ăn bơ có thể giảm lượng Cholesterol và Triglyceride.

Với quả bơ, bạn có thể lột vỏ, tách hạt, xay nhuyễn với sữa tươi, sữa chua, váng sữa và cho bé ăn hàng ngày nhé.

Nho

Nho là loại quả giàu năng lượng nên rất tốt cho trẻ. Loại trái cây này có chứa chất flavonoid giúp khỏe tim, tăng cường sức đề kháng, thải độc tố và bảo vệ cơ thể chống lại các cholesterol 'xấu'. Vì vậy, các mẹ nên cho trẻ ăn nho ít nhất 1 lần/tuần.

Sử dụng nho nghiền là tốt nhất. Trong vỏ quả nho chứa nhiều chất có khả năng kháng khuẩn, nên mẹ có thể nghiền lẫn vỏ. Khi bé từ 10 tháng tuổi mẹ có thể tách quả nho thành những miếng nhỏ, bỏ hạt và cho bé tập ăn bốc.

Chuyên Ngô - Theo Laodong.com.vn
Bình luận
Tin mới
  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

  • 28/10/2026

    Các bệnh thần kinh dễ gặp phải khi trời chuyển đông

    Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.

  • 27/10/2026

    Sơ cứu bỏng nhiệt và bỏng nước sôi đúng cách

    Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.

Xem thêm