Trên thị trường nước ta hiện có 17 nhóm thuốc kháng sinh với khoảng 500 tên thuốc gốc và hàng ngàn tên biệt dược khác nhau. Nếu dùng tên biệt dược mà hỏi, đôi khi đến cả dược sĩ, bác sĩ cũng không dám trả lời, bởi không những có nhiều tên thuốc khác nhau, mỗi loại thuốc lại còn được bào chế dưới nhiều dạng như: tiêm, uống, dùng ngoài; trong đó, thuốc uống và thuốc dùng ngoài cũng có nhiều dạng thuốc khác nhau. Chẳng hạn thuốc uống có: thuốc viên (viên nén, viên nén bao đường, viên bao tan trong ruột, viên nhộng...), thuốc nước (nhũ dịch, si rô, dung dịch), thuốc gói, thuốc cốm; thuốc dùng ngoài có: viên đặt âm đạo, thuốc nước nhỏ mắt, nhỏ tai, thuốc mỡ, tra mắt, bôi ngoài, thuốc phun sương xịt mũi...
Vì vậy, quy chế sử dụng thuốc kháng sinh phải được bác sĩ khám bệnh kê đơn mới được mua và sử dụng.
Khi nào cần dùng kháng sinh ?
Theo các chuyên gia y tế, những bệnh do nhiễm vi khuẩn, nhiễm trùng thì phải sử dụng kháng sinh để điều trị. Mỗi loại kháng sinh sẽ có một liều điều trị nhất định. Tuy nhiên, có một số loại kháng sinh như Beta lactam, Carbapenem, Quinolon, Glycoside,... trong một số trường hợp người bệnh bị bệnh nặng hoặc nhiễm trùng huyết thì phải tăng liều lượng (có thể phải dùng gấp đôi) để đảm bảo gia tăng kết quả điều trị, có thể kháng được vi khuẩn đặc biệt là các vi khuẩn kháng thuốc trong những trường hợp nhiễm khuẩn nặng.
Mặc dù thuốc kháng sinh mang lại hiệu quả tích cực trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm trùng, nhưng nó vẫn có những tác dụng phụ không mong muốn. Cụ thể là khi người bệnh dị ứng với loại kháng sinh đó, có thể sẽ bị nổi mề đay, ngứa,... Trong trường hợp nghiêm trọng, người bệnh có thể bị sốc phản vệ dẫn đến tử vong. Do đó, chống chỉ định khi sử dụng kháng sinh có thể là uống lúc đói, hoặc lúc no hoặc tiêm chích vào một thời điểm thích hợp.
Ngoài ra, lạm dụng thuốc kháng sinh trong việc kê toa và điều trị là cũng hết sức nguy hiểm. Kháng sinh chỉ được sử dụng trong những trường hợp người bệnh bị nhiễm vi khuẩn. Những trường hợp còn lại, không phải nhiễm khuẩn mà sử dụng kháng sinh thì đó gọi là lạm dụng kháng sinh không cần thiết. Ví dụ: Những trường hợp viêm mà không phải nhiễm (vi khuẩn), hoặc là những trường hợp nhiễm vi rút, nhiễm ký sinh trùng thì không cần sử dụng đến kháng sinh.
Lạm dụng kháng sinh nguy hiểm ra sao ?
Việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong việc kê toa điều trị không chỉ tốn kém chi phí (không cần sử dụng mà lại phải mua, có những loại kháng sinh rất đắt tiền), mà còn gây ra tác dụng phụ như loạn khuẩn đường ruột, gây tiêu chảy hoặc rối loạn tiêu hóa, nhờn thuốc, sốc thuốc, nguy hiểm hơn là tăng số loại vi khuẩn kháng thuốc. Gần đây, giới chuyên môn ghi nhận việc sử dụng kháng sinh không đúng cách đã dẫn đến các vi khuẩn đột biến kháng thuốc, càng ngày càng khó điều trị.
Trao đổi về thông tin hiện nay tại Mỹ xuất hiện một chủng vi khuẩn siêu kháng thuốc, kháng với tất cả những loại kháng sinh gây tâm lý hoang mang cho người dân, các bác sĩ tại Bệnh viện Đại học Y Dược, TP.HCM cho biết: có thể từ trước đến giờ, nước Mỹ chưa từng phát hiện ra loại chủng siêu vi khuẩn kháng thuốc này nhưng trên thế giới đã từng xuất hiện rải rác các loại vi khuẩn kháng mọi loại kháng sinh. Ví dụ: tại châu Á Thái Binh Dương, tỷ lệ mắc siêu vi khuẩn kháng thuốc Acinetobacter baumannii là 0,8%, Đài Loan là 5,4%,
Trung Quốc là 3,8%, ở châu Âu tỷ lệ thấp hơn. Cơ chế của siêu vi khuẩn kháng thuốc là tiết ra một loại men chống lại các loại kháng sinh mạnh nhất hiện nay.
Dùng thuốc kháng sinh thế nào cho an toàn ?
Theo khuyến cáo của các chuyên gia y tế, chỉ sử dụng kháng sinh đối với những bệnh nhiễm khuẩn cần phải điều trị kháng sinh. Người bệnh muốn sử dụng kháng sinh cần phải được bác sĩ khám, chẩn đoán và cho chỉ định sử dụng kháng sinh. Không nên tự ý đi mua thuốc, tự đi mua kháng sinh để điều trị vì người bệnh sẽ không biết việc sử dụng kháng sinh đó có cần thiết hay không, liều lượng và thời gian sử dụng như thế nào cho đúng và đủ. Một trong những bất cập hiện nay là người dân tiếp cận với kháng sinh quá dễ. Quyết định sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh cần có chỉ định của bác sĩ, giúp cho việc sử dụng đúng và đủ liều lượng.
Ngoài ra, cũng cần phải biết một số nguyên tắc cơ bản khi dùng thuốc kháng sinh như:
- Uống thuốc đúng liều, đúng khoảng cách giờ để đảm bảo cơ thể lúc nào cũng đủ lượng thuốc để chống chọi với vi khuẩn. Ví dụ: bác sĩ kê đơn: uống 2 lần/ngày thì khoảng cách mỗi lần uống thuốc là 12 giờ. Uống 3 lần/ngày, khoảng cách giờ là 8. Uống thuốc đủ số ngày bác sĩ ghi trong đơn (một liệu trình) thường là 7 hoặc 10 ngày.
- Uống thuốc tốt nhất là nước trà xanh (chè tươi hoặc chè búp khô) do nước trà xanh giúp kháng sinh đẩy nhanh tốc độ diệt vi khuẩn. Nếu không uống được nước trà xanh thì dùng nước sôi nguội.
Tình trạng gia tăng kháng thuốc hiện nay ngoài việc tự ý mua thuốc của người dân, không nghe theo chỉ định của bác sĩ thì còn có nguyên nhân do bác sĩ cho chỉ định không đúng (không cần kháng sinh mà lại cho sử dụng kháng sinh, cho không đúng loại kháng sinh với bệnh lý đó). Bên cạnh đó là việc sử dụng kháng sinh cho các vật nuôi (súc vật, cá,...). Việc lạm dụng thuốc kháng sinh làm dư lượng kháng sinh trong vật nuôi. Khi sử dụng những thức ăn này, vô tình người dân đã tiếp xúc và nạp vào cơ thể lượng kháng sinh dễ gây đột biến vi khuẩn kháng thuốc.
Khi thời tiết chuyển lạnh và nhiệt độ giảm sâu, nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi tăng cao đáng kể, trở thành mối lo ngại hàng đầu của nhiều gia đình. Tình trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng mà còn dễ để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí kịp thời. Nhằm giúp mọi người chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ những thông tin khoa học về nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết sớm và các biện pháp phòng ngừa đột quỵ hiệu quả trong mùa đông.
Hiến tặng tế bào gốc tủy xương đòi hỏi phải đồng ý cho phép lấy tế bào gốc từ máu hoặc tủy xương của bạn để truyền cho người khác. Quá trình này được gọi là cấy ghép tế bào gốc, cấy ghép tủy xương hoặc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Cùng tìm hiểu về quy trình và những nguy cơ bạn có thể gặp phải khi hiến tế bào gốc qua bài viết sau!
Mùa đông tới mang theo không khí khô lạnh khiến làn da vốn mỏng manh của trẻ nhỏ phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe. Hiện tượng nẻ gót, bong tróc hay cước tay chân ở trẻ nhỏ là nỗi trăn trở hàng đầu của nhiều bậc phụ huynh. Những vết bong nẻ không chỉ làm bé đau rát, ngứa ngáy mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, giấc ngủ và sự phát triển toàn diện của trẻ. Việc nhận biết rõ nguyên nhân, dấu hiệu và nắm chắc quy trình chăm sóc da chuẩn khoa học sẽ giúp cha mẹ chủ động bảo vệ toàn diện cho bé trong những ngày giá rét.
Mọi người thường tránh ăn đậu vì chúng được biết là gây đầy hơi và chướng bụng. Điều này xảy ra vì đậu chứa một loại đường phức tạp gọi là galacto-oligosaccharide (GOS), một dạng carbohydrate mà các enzyme tiêu hóa của con người không thể phân giải hoàn toàn. Thay vào đó, GOS được vi khuẩn trong ruột già lên men, và sinh ra sản phẩm phụ là khí, gây đầy hơi. Mặc dù không có loại thực phẩm nào có thể ngăn ngừa hoàn toàn tình trạng đầy hơi do đậu gây ra, nhưng việc kết hợp đậu với một số loại thực phẩm cụ thể có thể cải thiện tiêu hóa.
Làm thế nào để giữ cho trí óc luôn minh mẫn và nhạy bén khi tuổi tác ngày một tăng? Câu trả lời có thể đơn giản nằm ngay trên những trang sách. Đọc sách không chỉ là một hình thức giải trí tuyệt vời mà còn là bài tập hoàn hảo cho não bộ, giúp duy trì sức khỏe tinh thần, bảo vệ trí nhớ và đặc biệt là giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.
Mỡ lợn lâu nay bị coi là 'thủ phạm' gây tăng cân. Tuy nhiên nghiên cứu cho thấy chuột ăn mỡ lợn tích lũy mỡ thấp hơn dầu thực vật. Đâu là sự thật?
Giao mùa là thời điểm chuyển giao giữa hai mùa trong năm, khi nhiệt độ, độ ẩm, và hướng gió thay đổi thất thường. Đây cũng chính là giai đoạn mà cơ thể con người dễ bị “sốc nhiệt” – khi chưa kịp thích nghi với điều kiện thời tiết mới. Chính vì vậy, thời điểm này luôn là “cao điểm” của các bệnh lý về đường hô hấp, đặc biệt là ở trẻ em, người cao tuổi và người có hệ miễn dịch yếu. Nếu không chuẩn bị kỹ, các bệnh này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe mà còn có thể bùng phát thành dịch, lây lan nhanh trong cộng đồng.
Ung thư luôn là nỗi lo lớn của nhiều gia đình, nhưng căn bệnh này hoàn toàn không phải do "may rủi" quyết định. Chúng ta hoàn toàn có thể chủ động phòng ngừa từ 30-50% nguy cơ mắc bệnh chỉ nhờ việc điều chỉnh thói quen hằng ngày. Việc duy trì một lối sống lành mạnh chính là "lá chắn" tự nhiên giúp củng cố hệ miễn dịch và bảo vệ tế bào hiệu quả. Trong bài viết dưới đây, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ 5 cách ngăn ngừa ung thư đơn giản nhưng mang lại lợi ích lâu dài cho sức khỏe của bạn và gia đình.