Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Thóp trước quá to ở bé 6 tháng tuổi có đáng lo ngại?

Hỏi: Con trai tôi có thóp trước lớn chưa từng thấy (tôi đã sờ hàng nghìn cái thóp rồi!!!). Bác sĩ nhi khoa nói không có gì đáng lo, tôi cũng thấy không lo, nhưng bác sĩ lại khiến tôi sợ khi bảo tôi phải thông báo ngay nếu có bất cứ biến đổi gì trong sự phát triển của con. Tôi rất bối rối.

Kích thước trước sau của thóp là 7,5 cm, chiều ngang là 6,5 cm. Con trai tôi 6 tháng tuổi, đầu cháu phát triển bình thường, cháu bắt đầu ngồi, với tay lấy các đồ vật … Liệu có phải tôi đang lo lắng không có cơ sở ?

Alex Sweeney – Điều phối viên chăm sóc nhi khoa Bệnh viện Ormond, Florida, Mỹ.

Bác sĩ Greene:

Alex ạ, trước khi trả lời câu hỏi của anh, tôi xin có đôi lời với bạn đọc, những người không được đào tạo như anh, về thóp trước.

Thóp trước (nằm trên hộp sọ của trẻ) là điều khiến rất nhiều cha mẹ lo lắng. Ở những vùng khác trên đầu, não được bảo vệ bởi bức tường xương vững chắc, vậy mà ở vùng thóp chỉ có lớp mô mềm ngăn não khỏi các va đập từ thế giới bên ngoài. Thóp trước trông thật mong manh. Hôm nay tôi đã gặp một bà mẹ, chị nói rằng mình chưa bao giờ chạm vào thóp trước của con trai vì sợ sẽ thọc ngón tay xuyên qua thóp của con.

Thực ra, thóp trước là một minh chứng cho sự tài tình đáng kinh ngạc của tạo hóa trên cơ thể người. Khi chào đời, trẻ sơ sinh có 6 thóp nhưng chỉ  2 thóp dễ nhận ra (thóp lớn nhất nằm ở phía trên, gọi là thóp trước). Mối liên kết lỏng lẻo của các xương sọ giao nhau tại các thóp cho phép người mẹ thực hiện cuộc đẻ. Nếu không có cấu trúc giải phẫu linh hoạt như vậy, các bé sẽ phải có bộ não nhỏ hơn hay các bà mẹ phải có phần hông rộng hơn nếu muốn con có thể chào đời.

Giá trị của thóp trước cũng không mất đi khi bạn lần đầu ôm con trong tay. Thóp chẳng những không làm con bị tổn thương mà còn giúp bảo vệ bé khỏi chấn thương. Điều này khiến một số tai nạn hi hữu trở nên nguy hiểm hơn (ví dụ ngã đập đầu vào cột ăng ten ở ô tô), nhưng với những tai nạn thông thường ở mọi trẻ em, thóp trước trở thành chiếc đệm bảo vệ - biến hộp sọ thành mũ bảo hiểm.

Hàng tuần, các ông bố bà mẹ hoảng loạn vẫn thường lao vào phòng của tôi sau khi con họ ngã từ giường, từ bàn hay ghế cao xuống đất. Điều này xảy ra nhanh tới mức các bé có thể ngã ngay khi có mặt các  bậc phụ huynh hết sức cẩn thận, điều này cũng đã xảy ra với chính tôi. Khi ngã, trẻ nhỏ thường rơi đầu xuống trước, vì trọng tâm của bé nằm ở đầu (trọng tâm của người lớn nằm ở mông). Đầu đập xuống sàn nghe đánh rầm. May nhờ có chiếc đệm của thóp trước, phần lớn chấn thương đầu khá là nhẹ. Thóp tuy mềm nhưng lại bao gồm một màng sợi cực kỳ chắc chắn.  

Khi chào đời, thóp của trẻ sơ sinh có kích thước rất khác nhau. Nếu thóp nhỏ thì trong vài tháng đầu kích thước sẽ tăng. Trái lại những thóp lớn sẽ bé dần lại. Tới khi bé được 2 tháng tuổi, thóp trước thường có chiều ngang 3 cm. Thóp rộng tồn tại lâu thường là chuyện bình thường, nhưng trong một số trường hợp nó có thể liên quan tới các bệnh lý hiếm gặp:

1. Rối loạn phát triển sụn hay chứng lùn thực thụ: Anh có thể đánh giá chiều cao và vẻ ngoài của con để đưa ra kết luận.
2. Hội chứng Apert: Những đứa trẻ này có các bàn tay và bàn chân dính ngón, ngón tay cái và ngón chân cái to, bộ mặt điển hình. Và một lần nữa anh có thể tự nhận biết được.
Bệnh nhân hội chứng Apert bị dính các ngón tay.
3. Loạn phát xương đòn sọ: Những đứa trẻ này có xương đòn cực kỳ nhỏ hay hoàn toàn không có, lồng ngực nhỏ, sọ có hình dạng đặc biệt. Các dấu hiệu này thể hiện từ trước 6 tháng.

Bệnh nhân loạn phát xương đòn sọ không có xương đòn.

4. Thiểu năng tuyến giáp bẩm sinh: bệnh có thể bị bỏ sót nếu trẻ sơ sinh không được lấy máu làm test sàng lọc. Trước kia khi không có test này, thóp trước rộng là dấu hiệu điển hình để chẩn đoán bệnh. Nếu kết quả test sàng lọc của con anh bình thường thì chẳng có gì đáng lo.
Thiểu năng tuyến giáp bẩm sinh ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển tinh thần và thể chất của trẻ.
5. Rubella (bệnh sởi Đức) bẩm sinh: virus gây bệnh nhẹ ở trẻ lớn nhưng ảnh hưởng nặng nề tới trẻ sơ sinh. Những bé sống sót được thường bị mù, điếc, có tiếng thổi lớn ở tim. Đó là những đứa trẻ bề ngoài không khỏe mạnh.
6. Hội chứng Hallermann-Streiff: đặc trưng bởi các dấu hiệu trán to, mắt nhỏ (có đục thủy tinh thể), và mũi rất nhỏ, chưa phát triển hoàn chỉnh. Những đứa trẻ này thường mù từ khi sinh và dù có phẫu thuật cũng không phục hồi được thị lực. Chẩn đoán thường được đưa ra ngay sau khi trẻ chào đời.
Trẻ bị hội chứng Hallermann-Streiff thường mù từ khi sinh.
7. Não úng thủy hay ứ nước trong não: ở những trẻ bị não úng thủy, thóp trước vẫn mở do áp lực nội sọ cao và kích thước đầu tăng nhanh.
Ở bệnh nhân não úng thủy, các buồng não thất bị giãn rộng.
8. Giảm men photphataza: là bất thường chuyển hóa bẩm sinh, bệnh thường nặng và gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Dạng rất nhẹ của bệnh có thể được chẩn đoán bằng X quang (hình ảnh bị mọt ăn ở xương) hay nhờ xét nghiệm máu hoặc nước tiểu. Những đứa trẻ này giống với trẻ bị còi xương, và không bị chậm phát triển.
9. Chậm phát triển trong tử cung: Những trẻ không phát triển tốt trong tử cung (vì bất kỳ lý do gì) thường có thóp rộng một thời gian dài. Một lần nữa, anh cũng có thể tự đánh giá bệnh lý này.
Trẻ chậm phát triển trong tử cung (trái) nhỏ  so với trẻ phát triển bình thường (phải)
10. Bệnh xương thủy tinh (hay bệnh tạo xương không hoàn hảo - Osteogenesis imperfecta: Đặc trưng bởi tình trạng xương dễ gãy, các khớp duỗi quá mức, củng mạc (lòng trắng của mắt) màu xanh sẫm. Dạng bệnh nhẹ thường bị bỏ sót nhưng có thể được chẩn đoán bằng X- quang. Tất cả các trẻ bị bệnh này đều gãy nhiều xương, dẫn đến chụp X-quang.
Củng mạc mắt trẻ bị bệnh xương thủy tinh có màu xanh da trời.
11. Đẻ non: thóp trước ở trẻ sinh non rộng hơn so với kích thước trung bình, nhưng không có rắc rối gì từ vấn đề này.

Trẻ sinh non được nuôi trong lồng ấp.

13. Ba nhiễm sắc thể 13 (hội chứng Patau), 18 (hội chứng Edwards), 21 (hội chứng Down): Các bệnh này đều được phát hiện ngay khi sinh.
14. Còi xương do thiếu vitamin D: bệnh hiếm gặp ở Mỹ, nhưng có thể xảy ra ở những trẻ bú mẹ hoàn toàn và mẹ không uống vitamin hoặc ít ra ngoài nắng. Trẻ có các biểu hiện chi cong, bụng chảy xệ, có rãnh ngang ở giữa lồng ngực và bụng. Ở nhiều trẻ, ấn vào xương sọ gây cảm giác lõm xuống như ấn vào quả bóng bàn.

Khi bác sĩ nói mọi việc có vẻ ổn, ông ấy đã đúng. Bác sĩ cũng đúng khi lo lắng rằng thóp rộng đôi khi cũng liên quan tới một số hội chứng, chẳng hạn hội chứng ba nhiễm sắc thể, có thể đi kèm chậm phát triển. 

Bây giờ anh đã biết về những bệnh này, các hội chứng nguy hiểm nhất đã được loại bỏ. Con anh, một đứa trẻ năng động, cũng chẳng có gì chung với các hội chứng nhẹ đã nêu. Hãy thư giãn và tận hưởng niềm vui khi con bắt đầu tập ngồi, rồi bé sẽ chạy quanh phòng.  Đối với phần lớn trẻ, thóp trước sẽ sớm đóng lại sau khi bé đã đứng vững vàng trên đôi chân của mình (vào 9-12 tháng).

Thóp mở đủ lâu giúp bảo vẹ bé khi con vấp ngã để rồi có thể tự mình đi được. Mọi việc sẽ diễn ra rất nhanh.

* Alan Greene là bác sĩ chuyên khoa nhi nổi tiếng của Mỹ, có bằng cử nhân Lịch sử và Triết học Khoa học, sau đó tốt nghiệp trường Y tại Đạihọc California. Hiện ông công tác tại Khoa lâm sàng Trường Y Đại học Standford, thực hiện việc khám bệnh và giảng dạy.

Bác sĩ Greene là người sáng lập và điều hành trang web DrGreene.com. Ông được công nhận là một trong 25 người có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới công nghệ thông tin y khoa. Ông cũng được vinh danh là 'Anh hùng Sức khỏe cho trẻ em'.

Trang web DrGreene.com nhận được hơn 14 triệu hit mỗi tháng từ phụ huynh, sinh viên và các chuyên gia y tế.

Bác sĩ Greene
BS Trần Thu Thủy - Theo Bệnh viện Nhi Trung Ương/DrGreene.com
Bình luận
Tin mới
  • 17/10/2026

    Những lợi ích tuyệt vời của việc duy trì quan hệ tình dục đều đặn

    Tình dục không đơn thuần là hành vi mang tính bản năng hay phục vụ mục đích duy trì nòi giống, mà còn đóng vai trò cốt lõi trong việc chăm sóc sức khỏe toàn diện cho con người. Việc duy trì hoạt động tình dục đều đặn, lành mạnh mang lại hàng loạt tác động tích cực về cả thể chất lẫn tinh thần. Nhằm giúp bạn đọc có cái nhìn khoa học và đúng đắn hơn về chủ đề này, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin và phân tích chi tiết trong bài viết dưới đây.

  • 17/10/2026

    Nhận diện các loại côn trùng thường gặp và cách xử trí

    Ve, muỗi, kiến lửa, bọ chét hay nhện độc... là những "vị khách không mời" quen thuộc trong sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt vào mùa mưa ẩm.

  • 16/10/2026

    Xét nghiệm máu: Phương pháp mới giúp đánh giá sớm nguy cơ ung thư

    Một nghiên cứu công bố trên tạp chí PLOS Medicine cho thấy việc theo dõi sự thay đổi của các chỉ số xét nghiệm máu theo thời gian có thể giúp nhận diện nguy cơ ung thư sớm hơn so với việc chỉ đánh giá kết quả của một lần xét nghiệm.

  • 16/10/2026

    7 yếu tố nguy cơ đột quỵ và cách phòng ngừa hiệu quả

    Đột quỵ là biến cố cấp tính nguy hiểm xảy ra khi dòng máu nuôi não bị tắc nghẽn hoặc bị gián đoạn, khiến tế bào não bị hoại tử nhanh chóng. Nếu không được cấp cứu trong "thời gian vàng", bệnh có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề như liệt, rối loạn ngôn ngữ. Hiện nay, căn bệnh này đang có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt là ở nam giới. Nhằm giúp cộng đồng chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cốt lõi giúp nhận diện nguyên nhân và phòng ngừa đột quỵ hiệu quả.

  • 15/10/2026

    Ngũ cốc nguyên hạt và sức khỏe tim mạch: Nên ăn bao nhiêu mỗi ngày?

    Ngũ cốc nguyên hạt từ lâu đã được khuyến cáo trong chế độ ăn có lợi cho tim mạch.

  • 15/10/2026

    6 loại thực phẩm chức năng phổ biến gây hại cho gan

    Các thực phẩm chức năng từ nghệ, đặc biệt là những loại có thêm tiêu đen, có thể gây hại cho gan, với số ca tổn thương gan do nghệ gây ra ngày càng tăng trong những năm gần đây.

  • 14/10/2026

    5 loại thực phẩm bổ sung có thể cải thiện hiệu suất tập luyện

    Một số thực phẩm chức năng có thể cải thiện sức bền hoặc hiệu suất thể thao. Tuy nhiên, một số loại thực phẩm chức năng có thể hứa hẹn kết quả quá mức hoặc đi kèm với rủi ro.

  • 14/10/2026

    U dây thần kinh thính giác

    U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!

Xem thêm