Sẩy thai: dấu hiệu, nguyên nhân và phương hướng điều trị (phần 2)
4. Làm gì khi nghi ngờ mình bị sẩy thai:
Nếu bạn phát hiện hoặc nhận ra dấu hiệu nào như chảy máu hoặc cơn co thắt trong suốt quá trình mang thai, hãy đi khám ngay. Bác sẽ khám và tìm hiểu xem máu ra từ đâu, có phải từ cổ tử cung hay không và kiểm tra tử cung cho bạn. Bạn cũng có thể được làm xét nghiệm máu để kiểm tra nồng độ hormon mang thai hCG và kiểm tra này sẽ được liên tục trong vòng 2 đến 3 ngày để xem nồng độ này có tăng như mong đợi không.
Nếu bạn bị ra máu hoặc có cơn co thắt và nếu bác sĩ có nghi ngờ thậm chí chỉ là một chút rằng bạn chửa ngoài tử cung, bạn sẽ được chỉ định làm siêu âm ngay lập tức. Nếu bạn không thấy có dấu hiệu bất thường nào ngoài việc tiếp tục ra máu sau đó, bạn sẽ được làm siêu âm lại ở tuần thứ 7 thai kì.
Ở thời điểm này, nếu bác sĩ chuyên khoa thấy được tim thai bình thường, thì thai nhi của bạn có thể sống được và nguy cơ sẩy thai đã được giảm xuống rất nhiều, nhưng nếu bạn vẫn tiếp tục ra máu, bạn sẽ phải đi làm lại siêu âm. Nếu bác sĩ xác định rằng thai có kích thước bình thường nhưng không có tim thai, có nghĩa la bạn đã bị sẩy thai, hay thai không sống được.
Nếu kích thước thai nhỏ hơn mong đợi, và không nghe được tim thai thì có thể chỉ có nghĩa là bạn đã tính sai ngày mang thai và thai nhi chưa đủ ngày như bạn nghĩ. Phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, bạn sẽ phải làm lại siêu âm trong vòng 1 đến 2 tuần sau đó và một số xét nghiệm máu để đi đến chẩn đoán cuối cùng.
Nếu bạn đang ở 3 tháng giữa thai kì, và kết quả siêu âm cho thấy cổ tử cung ngắn hoặc mở, bác sĩ có thể sẽ cho bạn làm một thủ thuật gọi là khâu cổ tử cung, tức là đóng cổ tử cung lại để bảo vệ bạn khỏi bị sẩy thai hoặc sinh non (trong trường hợp kết quả siêu âm cho thấy thai nhi bình thường và không có dấu hiệu của nhiễm trùng trong tử cung). Thủ thuật này tất nhiên tồn tại những yếu tố nguy cơ nhất định, và không phải ai đủ điều kiện để được làm.
Nếu bạn đang có dấu hiệu cho thấy có thể sẩy thai, bác sĩ sẽ bảo bạn nghỉ ngơi nhiều tại giường để làm giảm nguy cơ sẩy thai, tuy nhiên chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh điều đó. Bạn cũng sẽ được khuyên không quan hệ tình dục nếu ra máu và co thắt tử cung. Quan hệ tình dục không làm sẩy thai, tuy nhiên nếu bạn có những dấu hiệu này thì bạn nên kiêng.
Nếu có thể, hãy bỏ những mô này vào trong dụng cụ sạch và đưa cho bác sĩ sản của bạn. Bác sĩ có thể sẽ muốn kiểm tra lại hoặc gửi đến phòng xét nghiệm để tìm ra nguyên nhân bạn sẩy thai. Trong đa số, nhiều khả năng bác sĩ sẽ muốn gặp bạn trong thời điểm này, vì vậy hãy liên lạc và nói lại những gì đã xảy ra.
5. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu bạn chưa tống được những mô này ra ngoài?
Có nhiều cách để giải quyết vấn đề này, nhưng tốt hơn hết là hãy thảo luận với bác sĩ để biết được ưu nhược điểm của từng phương pháp. Có thể bạn sẽ chọn chờ đợi cho đến lúc nó tự ra ngoài nếu bác sĩ sau khi kiểm tra cho bạn nói rằng sức khỏe của bạn sẽ không bị ảnh hưởng nhiều. ( Hơn một nửa phụ nữ tống ra tự nhiên trong vòng một tuần sau khi biết thai nhi không còn). Hoặc cũng có thể bạn sẽ chờ một khoảng thời gian ngắn xem chuyện gì xảy ra trước khi tiến hành thủ thuật bỏ thai.
Trong một số trường hợp, bạn có thể sử dụng thuốc để thúc đẩy nhanh quá trình này, tuy nhiên nhược điểm của thuốc đó là nó có các tác dụng phụ như nôn, buồn nôn và tiêu chảy. Nếu bạn chọn cách chờ để cơ thể tự đẩy ra hoặc uống thuốc để kích thích, thì vẫn có nguy cơ phải tiến hành thủ thuật mới đẩy hết ra ngoài được.
Trong trường hợp bạn gặp phải vấn đề như ra máu hoặc dấu hiệu nhiễm trùng làm cho nguy cơ ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe tăng lên, bạn phải loại bỏ thai ngay lập tức. Bác sĩ của bạn sẽ khuyên bạn nên làm thủ thuật nếu đây là lần thứ 2 hoặc 3 bạn sẩy thai liên tiếp, để mô thai được kiểm tra để tìm xem có nguyên nhân do gen hay không.
Thông tin thêm tham khảo tại bài viết: Lưu ý hữu ích về mang thai sau khi sảy thai
SKĐS - Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương vừa ký ban hành Thông tư số 52/2025/TT-BYT quy định danh mục bệnh truyền nhiễm, đối tượng và phạm vi phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc.
Uống trà không phải là giải pháp giảm cân nhanh chóng nhưng nếu biết chọn loại trà và sử dụng đúng cách có thể hỗ trợ giảm cân, giảm mỡ bụng theo thời gian.
Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.
Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.