Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Nguy cơ ung thư, rụng răng, gãy xương vì dùng thuốc chống loãng xương: Thực hư thế nào?

Loãng xương làm suy yếu sức mạnh của toàn khung xương, ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống của số đông người luống tuổi. Để phòng ngừa loãng xương, nhiều người đã tự ý dùng thuốc chống loãng xương bisphosphonate và họ dễ phải đối mặt với nhiều nguy cơ do tác dụng phụ của loại thuốc này gây ra.

Loãng xương là một quá trình làm giảm mật độ xương và phá hủy vi cấu trúc xương diễn ra từ từ trong nhiều năm. Trong xương có hai loại tế bào chính: tạo cốt bào (tế bào tạo ra xương) và hủy cốt bào (tế bào tiêu xương). Khi bước vào tuổi xế chiều, hoạt tính của tế bào hủy xương không cân bằng với hoạt tính của tế bào tạo xương nên xương người già thường bị loãng. Biến chứng nặng nề của bệnh là gây ra gãy xương, không những làm tàn phế mà còn tăng nguy cơ tử vong cho người bệnh. Dùng thuốc chống loãng xương nhằm khắc phục tình trạng này. Nhóm thuốc thường được bác sĩ kê đơn và nhiều người tự ý mua dùng là bisphosphonate.

Do có sự điều chỉnh nhỏ trong nhóm chức hóa học nên nhóm thuốc bisphosphonate có nhiều loại như alendronate, clodronate, etidronate, pamidronate, risedronate, tiludronate và zoledronate... Một số dược phẩm trong nhóm bisphosphonate có thể dùng đường uống, có loại được dùng qua đường tiêm tĩnh mạch. Bisphosphonate tác động đồng thời lên hai nhóm tế bào chính trong xương là tế bào tạo xương và tế bào hủy xương. Tức là thuốc kéo dài sự tồn tại của tế bào tạo xương và rút ngắn sự hoạt hóa của tế bào hủy xương, nên đã gián tiếp làm xương chắc thêm. Thuốc đặc biệt hiệu quả với các trường hợp loãng xương chậu và xương cột sống, những xương dễ bị gãy, xẹp do loãng xương.

Thầy thuốc khuyến cáo: Phụ nữ ở độ tuổi sinh sản cần tránh dùng bisphosphonate quá liều vì thuốc có khả năng gây vô sinh, hiếm muộn.

Thực hư các tác dụng phụ nguy hiểm của bisphosphonate

Tuy nằm trong danh mục là một thuốc quan trọng bậc nhất trong dự phòng và điều trị chứng bệnh loãng xương, nhưng bisphosphonate cũng gây ra rất nhiều tác dụng phụ đáng ngại, thậm chí nhiều bệnh nhân phải bỏ thuốc giữa liệu trình. Các tác dụng phụ thường gặp là sốt, đau đầu, ợ chua, đau bụng, đầy hơi, trào ngược axít thực quản... Đặc biệt, các tác dụng phụ nghiêm trọng nhất của bisphosphonate có thể kể đến như:

Viêm loét dạ dày thực quản và ung thư: Cấu trúc hóa học của  bisphosphonate rất nhạy cảm với bề mặt dạ dày và thực quản. Rất nhiều trường hợp bệnh nhân đã báo cáo sau một thời gian sử dụng thuốc bị viêm loét dạ dày thực quản, gây kích ứng, đau. Một số bị ung thư thực quản sau thời gian dài dùng thuốc. Nguyên nhân gây viêm thực quản là do thuốc mắc và đọng lại trong lòng thực quản (do uống thuốc không trôi vào dạ dày hoặc do thuốc tan ngay ở thực quản). Tình trạng này thường thấy ở những người uống thuốc không đúng cách: uống thuốc với quá ít nước, thậm chí uống thuốc không cần nước; uống thuốc ở tư thế nửa nằm nửa ngồi hoặc ở tư thế nằm, uống thuốc xong rồi đi nằm ngay... khiến thuốc bị dính lại ở thực quản. Nồng độ thuốc tan tại chỗ rất cao sẽ gây ra độc tính trực tiếp trên thành thực quản gây loét và viêm.

Xương hàm hoại tử - răng rụng: Mặc dù có cùng thành phần, nhưng xương và răng là hai thứ bị tác động hoàn toàn khác nhau khi người bệnh dùng thuốc bisphosphonate. Khi dùng thuốc xương được chắc thêm nhưng răng lại dễ rụng vì chân răng bị hoại tử. Nhiều trường hợp bị hoại tử xương hàm do dùng bisphosphonate kéo dài. Cơ chế gây ra tình trạng này chưa rõ rệt nhưng nhiều khả năng thuốc làm rối loạn sự lắng đọng canxi vào vị trí răng, vì thế, xương hàm bị hoại tử và răng bị rụng. Biến chứng này dễ xảy ra hơn khi người bệnh dùng thuốc lại đã từng trải qua thủ thuật nhổ răng và nhất là người dùng thuốc dạng tiêm.

Vô sinh hiếm muộn: Thuốc bisphosphonate có thể gây rối loạn chu kỳ rụng trứng ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Tác dụng phụ dẫn đến vô sinh chỉ gặp ở người dùng thuốc quá liều. Nếu dùng liều gấp 3-5 lần liều bình thường thì trong những tháng đang điều trị và những tháng sau đó không có trứng rụng. Tác dụng phụ gây vô sinh cũng gặp ở đàn ông nhưng tỷ lệ thấp hơn so với nữ giới.

Gãy xương đùi: Trong các tác dụng phụ nguy hiểm đáng để nói thì tác dụng phụ gây gãy xương đùi là đáng chú ý nhất và lại là nghịch lý nhất với người sử dụng bisphosphonate. Nghịch lý là vì đây là thuốc làm giảm loãng xương, tức là gia tăng sức khoẻ cho hệ xương, vậy mà lại gây ra gãy xương. Thực ra, điều này đã được các nhà nghiên cứu cảnh báo cho những bệnh nhân lạm dụng thuốc, dùng thuốc liều cao hoặc kéo dài. Vì khi đó thuốc lại gắn kết với canxi trong máu làm giảm sự canxi hóa trong xương, xương không thể chắc được. So sánh những bệnh nhân dùng bisphosphonate trong thời gian ngắn và không liên tục cho thấy, nhóm dùng liều cao bisphosphonate có tỷ lệ gãy xương khác biệt. Tuy nhiên, không thể tự nhiên xương gãy hoặc sự gãy xương cũng có nhiều yếu tố khác tham gia như lực chấn thương, ngã chẳng hạn. Hơn nữa, cho dù là thuốc hỗ trợ xương, nhưng trên xương khớp, nhóm thuốc bisphosphonate có thể gây ra đau xương khớp với tỷ lệ khá cao. Hiện tượng đau khởi phát ngay sau 12 giờ dùng thuốc và có thể kéo dài nhiều ngày sau đó. Đau thường ở trong xương cột sống đầu tiên, sau đó đến đau xương sườn và đến xương chân tay. Đã có nhiều giả thiết nghi ngờ các thuốc bisphosphonate chỉ ngăn cản sự đào thải của các khối canxi đã không còn liên kết với xương chứ không làm được việc tăng sức khỏe và sự hàn gắn của canxi vào các mô xương, nên mới dẫn đến các tác dụng phụ như trên cho hệ xương khớp.

Khuyến cáo

Để giảm tác dụng phụ của thuốc bisphosphonate, khi uống thuốc cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc sau: Tuyệt đối không uống bisphosphonate khi dạ dày trống rỗng. Tuy nhiên, thuốc lại hấp thu tốt hơn khi dạ dày không nhiều thức ăn. Vì vậy, nên uống thuốc sau ăn tối thiểu 2 giờ. Không uống thuốc nếu cách quá bữa ăn 3giờ. Khi uống thuốc phải uống thật nhiều nước để đảm bảo thuốc trôi hẳn xuống dạ dày và rửa sạch những bám dính của thuốc trên thành thực quản. Ngồi thẳng lưng khi uống thuốc và giữ nguyên tư thế ít nhất trong 5 phút để thuốc chắc chắn đi xuống dạ dày mà không bị mắc ở thực quản. Để tránh nguy cơ rụng răng và hoại tử xương hàm, không được dùng thuốc khi vừa trải qua thủ thuật răng miệng, kể cả nhổ răng và định kỳ sau 2 tuần dùng thuốc nên khám răng miệng để chống biến chứng xảy ra. Để tránh vô sinh: khi đang ở độ tuổi sinh sản cần hạn chế dùng bisphosphonate dạng tiêm, vì dạng thuốc tiêm rất có hại với hệ sinh sản do thuốc ngấm nhanh vào mô cơ quan này; tuyệt đối không dùng thuốc (dạng uống) quá liều. Khi có hiện tượng đau cơ, đau khớp, đau xương nặng, phải ngưng sử dụng bisphosphonate. Người có canxi máu thấp phải được điều trị trước khi dùng bisphosphonate.

DS. Thanh Lâm - Theo Sức khỏe & Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 19/03/2026

    Trẻ khó ngủ, mất ngủ do tăng động: Dấu hiệu không nên bỏ qua

    Giấc ngủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển thể chất và não bộ của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, không ít phụ huynh tại nước ta đang đối mặt với tình trạng trẻ khó ngủ, ngủ không sâu giấc, hay thức giấc ban đêm – đặc biệt ở nhóm trẻ có biểu hiện tăng động, hiếu động quá mức.

  • 19/03/2026

    Bệnh sốt xuất huyết

    Sốt xuất huyết nhẹ gây sốt cao và các triệu chứng giống cúm. Sốt xuất huyết nặng, còn gọi là sốt xuất huyết Dengue, có thể gây chảy máu nghiêm trọng, tụt huyết áp đột ngột (sốc) và tử vong.

  • 19/03/2026

    Thảo mộc giàu flavonoid và vai trò trong hỗ trợ giảm nguy cơ ung thư

    Khoảng 30–50% tử vong do ung thư có thể được phòng tránh bằng việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ đã biết: không hút thuốc, duy trì cân nặng hợp lý, ăn uống lành mạnh (nhiều rau củ quả), vận động đều đặn, hạn chế rượu và tuân thủ các chương trình tầm soát phù hợp.

  • 18/03/2026

    Những nguyên nhân có thể gây ra cơn nóng rát dạ dày

    Cảm giác nóng rát dạ dày là triệu chứng tiêu hóa khá phổ biến, có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Dù thường bị xem nhẹ, song đây có thể là dấu hiệu cảnh báo nhiều vấn đề sức khỏe tiềm ẩn liên quan đến dạ dày - tá tràng, thậm chí là các bệnh lý nguy hiểm nếu kéo dài và không được điều trị.

  • 17/03/2026

    Các loại thảo mộc trong Trà thanh nhiệt Dr.Thanh

    Trà thanh nhiệt Dr Thanh là một sản phẩm đồ uống thảo mộc đóng chai sản xuất bằng công nghệ chiết lạnh vô trùng (Aseptic). Ngoài ba vị đã nêu trước đó (Kim ngân hoa, Cúc hoa, La hán quả), sản phẩm còn phối hợp thêm các thảo mộc khác: Hạ khô thảo, Cam thảo, Đản hoa, Tiên thảo...

  • 17/03/2026

    4 loại mặt nạ tự chế tốt nhất cho da khô

    Đối với người sở hữu làn da khô, cảm giác căng rát và sự xuất hiện của những vảy da nhỏ là nỗi ám ảnh suốt những ngày lạnh. Thay vì phụ thuộc vào các loại mặt nạ giấy đóng gói sẵn, nên sử dụng những nguyên liệu tự nhiên tự chế loại mặt nạ làm dịu làn da.

  • 17/03/2026

    Sử dụng màn hình quá nhiều có thể gây hại cho mắt không?

    Nhiều người trong chúng ta dán mắt vào điện thoại, màn hình máy tính và các thiết bị kỹ thuật số khác cả ngày, có thể gây khó chịu và các triệu chứng như khô mắt, nhìn mờ, đau đầu. Những triệu chứng đó thường chỉ là tạm thời, nếu bạn biết chăm sóc đúng cách, đôi mắt có thể vẫn sắc nét và khỏe mạnh; Nhưng điều đó đòi hỏi bạn phải chú ý đến vị trí đặt màn hình, thời điểm nghỉ ngơi và mức độ quan tâm đến các triệu chứng mỏi mắt.

  • 16/03/2026

    Tại sao cam thảo có mặt trong nhiều loại trà thảo mộc?

    Cam thảo là một trong những thành phần xuất hiện rất phổ biến trong các loại trà thảo mộc, từ trà pha thủ công, trà túi lọc đến đồ uống thảo mộc đóng chai. Cam thảo có tên khoa học là Glycyrrhiza glabra. Tại Việt Nam, thường gặp các dạng dược liệu được gọi chung là cam thảo như cam thảo bắc, cam thảo nam và cam thảo dây, với nguồn gốc và đặc điểm dược tính khác nhau.

Xem thêm