Loãng xương là một quá trình làm giảm mật độ xương và phá hủy vi cấu trúc xương diễn ra từ từ trong nhiều năm. Trong xương có hai loại tế bào chính: tạo cốt bào (tế bào tạo ra xương) và hủy cốt bào (tế bào tiêu xương). Khi bước vào tuổi xế chiều, hoạt tính của tế bào hủy xương không cân bằng với hoạt tính của tế bào tạo xương nên xương người già thường bị loãng. Biến chứng nặng nề của bệnh là gây ra gãy xương, không những làm tàn phế mà còn tăng nguy cơ tử vong cho người bệnh. Dùng thuốc chống loãng xương nhằm khắc phục tình trạng này. Nhóm thuốc thường được bác sĩ kê đơn và nhiều người tự ý mua dùng là bisphosphonate.
Do có sự điều chỉnh nhỏ trong nhóm chức hóa học nên nhóm thuốc bisphosphonate có nhiều loại như alendronate, clodronate, etidronate, pamidronate, risedronate, tiludronate và zoledronate... Một số dược phẩm trong nhóm bisphosphonate có thể dùng đường uống, có loại được dùng qua đường tiêm tĩnh mạch. Bisphosphonate tác động đồng thời lên hai nhóm tế bào chính trong xương là tế bào tạo xương và tế bào hủy xương. Tức là thuốc kéo dài sự tồn tại của tế bào tạo xương và rút ngắn sự hoạt hóa của tế bào hủy xương, nên đã gián tiếp làm xương chắc thêm. Thuốc đặc biệt hiệu quả với các trường hợp loãng xương chậu và xương cột sống, những xương dễ bị gãy, xẹp do loãng xương.
Thầy thuốc khuyến cáo: Phụ nữ ở độ tuổi sinh sản cần tránh dùng bisphosphonate quá liều vì thuốc có khả năng gây vô sinh, hiếm muộn.
Thực hư các tác dụng phụ nguy hiểm của bisphosphonate
Tuy nằm trong danh mục là một thuốc quan trọng bậc nhất trong dự phòng và điều trị chứng bệnh loãng xương, nhưng bisphosphonate cũng gây ra rất nhiều tác dụng phụ đáng ngại, thậm chí nhiều bệnh nhân phải bỏ thuốc giữa liệu trình. Các tác dụng phụ thường gặp là sốt, đau đầu, ợ chua, đau bụng, đầy hơi, trào ngược axít thực quản... Đặc biệt, các tác dụng phụ nghiêm trọng nhất của bisphosphonate có thể kể đến như:
Viêm loét dạ dày thực quản và ung thư: Cấu trúc hóa học của bisphosphonate rất nhạy cảm với bề mặt dạ dày và thực quản. Rất nhiều trường hợp bệnh nhân đã báo cáo sau một thời gian sử dụng thuốc bị viêm loét dạ dày thực quản, gây kích ứng, đau. Một số bị ung thư thực quản sau thời gian dài dùng thuốc. Nguyên nhân gây viêm thực quản là do thuốc mắc và đọng lại trong lòng thực quản (do uống thuốc không trôi vào dạ dày hoặc do thuốc tan ngay ở thực quản). Tình trạng này thường thấy ở những người uống thuốc không đúng cách: uống thuốc với quá ít nước, thậm chí uống thuốc không cần nước; uống thuốc ở tư thế nửa nằm nửa ngồi hoặc ở tư thế nằm, uống thuốc xong rồi đi nằm ngay... khiến thuốc bị dính lại ở thực quản. Nồng độ thuốc tan tại chỗ rất cao sẽ gây ra độc tính trực tiếp trên thành thực quản gây loét và viêm.
Xương hàm hoại tử - răng rụng: Mặc dù có cùng thành phần, nhưng xương và răng là hai thứ bị tác động hoàn toàn khác nhau khi người bệnh dùng thuốc bisphosphonate. Khi dùng thuốc xương được chắc thêm nhưng răng lại dễ rụng vì chân răng bị hoại tử. Nhiều trường hợp bị hoại tử xương hàm do dùng bisphosphonate kéo dài. Cơ chế gây ra tình trạng này chưa rõ rệt nhưng nhiều khả năng thuốc làm rối loạn sự lắng đọng canxi vào vị trí răng, vì thế, xương hàm bị hoại tử và răng bị rụng. Biến chứng này dễ xảy ra hơn khi người bệnh dùng thuốc lại đã từng trải qua thủ thuật nhổ răng và nhất là người dùng thuốc dạng tiêm.
Vô sinh hiếm muộn: Thuốc bisphosphonate có thể gây rối loạn chu kỳ rụng trứng ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Tác dụng phụ dẫn đến vô sinh chỉ gặp ở người dùng thuốc quá liều. Nếu dùng liều gấp 3-5 lần liều bình thường thì trong những tháng đang điều trị và những tháng sau đó không có trứng rụng. Tác dụng phụ gây vô sinh cũng gặp ở đàn ông nhưng tỷ lệ thấp hơn so với nữ giới.
Gãy xương đùi: Trong các tác dụng phụ nguy hiểm đáng để nói thì tác dụng phụ gây gãy xương đùi là đáng chú ý nhất và lại là nghịch lý nhất với người sử dụng bisphosphonate. Nghịch lý là vì đây là thuốc làm giảm loãng xương, tức là gia tăng sức khoẻ cho hệ xương, vậy mà lại gây ra gãy xương. Thực ra, điều này đã được các nhà nghiên cứu cảnh báo cho những bệnh nhân lạm dụng thuốc, dùng thuốc liều cao hoặc kéo dài. Vì khi đó thuốc lại gắn kết với canxi trong máu làm giảm sự canxi hóa trong xương, xương không thể chắc được. So sánh những bệnh nhân dùng bisphosphonate trong thời gian ngắn và không liên tục cho thấy, nhóm dùng liều cao bisphosphonate có tỷ lệ gãy xương khác biệt. Tuy nhiên, không thể tự nhiên xương gãy hoặc sự gãy xương cũng có nhiều yếu tố khác tham gia như lực chấn thương, ngã chẳng hạn. Hơn nữa, cho dù là thuốc hỗ trợ xương, nhưng trên xương khớp, nhóm thuốc bisphosphonate có thể gây ra đau xương khớp với tỷ lệ khá cao. Hiện tượng đau khởi phát ngay sau 12 giờ dùng thuốc và có thể kéo dài nhiều ngày sau đó. Đau thường ở trong xương cột sống đầu tiên, sau đó đến đau xương sườn và đến xương chân tay. Đã có nhiều giả thiết nghi ngờ các thuốc bisphosphonate chỉ ngăn cản sự đào thải của các khối canxi đã không còn liên kết với xương chứ không làm được việc tăng sức khỏe và sự hàn gắn của canxi vào các mô xương, nên mới dẫn đến các tác dụng phụ như trên cho hệ xương khớp.
Khuyến cáo
Để giảm tác dụng phụ của thuốc bisphosphonate, khi uống thuốc cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc sau: Tuyệt đối không uống bisphosphonate khi dạ dày trống rỗng. Tuy nhiên, thuốc lại hấp thu tốt hơn khi dạ dày không nhiều thức ăn. Vì vậy, nên uống thuốc sau ăn tối thiểu 2 giờ. Không uống thuốc nếu cách quá bữa ăn 3giờ. Khi uống thuốc phải uống thật nhiều nước để đảm bảo thuốc trôi hẳn xuống dạ dày và rửa sạch những bám dính của thuốc trên thành thực quản. Ngồi thẳng lưng khi uống thuốc và giữ nguyên tư thế ít nhất trong 5 phút để thuốc chắc chắn đi xuống dạ dày mà không bị mắc ở thực quản. Để tránh nguy cơ rụng răng và hoại tử xương hàm, không được dùng thuốc khi vừa trải qua thủ thuật răng miệng, kể cả nhổ răng và định kỳ sau 2 tuần dùng thuốc nên khám răng miệng để chống biến chứng xảy ra. Để tránh vô sinh: khi đang ở độ tuổi sinh sản cần hạn chế dùng bisphosphonate dạng tiêm, vì dạng thuốc tiêm rất có hại với hệ sinh sản do thuốc ngấm nhanh vào mô cơ quan này; tuyệt đối không dùng thuốc (dạng uống) quá liều. Khi có hiện tượng đau cơ, đau khớp, đau xương nặng, phải ngưng sử dụng bisphosphonate. Người có canxi máu thấp phải được điều trị trước khi dùng bisphosphonate.
Đo chức năng hô hấp bằng máy đo (Spirometry) là phương pháp thăm dò không xâm lấn, thực hiện nhanh chóng, dễ dàng chỉ trong 10-15 phút tại các cơ sở y tế. Phương pháp này có khả năng phát hiện chính xác các tổn thương tắc nghẽn đường thở từ sớm, trước khi người bệnh xuất hiện triệu chứng khó thở rõ rệt.
Loãng xương khiến xương trở nên giòn, dễ gãy, đặc biệt ở người lớn tuổi.
Bạn bắt đầu bằng một viên thuốc hạ huyết áp, vài tuần sau xuất hiện phù chân, bác sĩ kê thêm thuốc lợi tiểu. Sau khi uống thuốc lợi tiểu, bạn xét nghiệm thấy tăng axit uric gây đau khớp, và thế là bạn lại được kê thêm thuốc giảm đau. Vòng xoáy nguy hiểm này trong y khoa được gọi là “Dòng thác kê đơn - Prescribing Cascade” - một cái bẫy với nhiều hiểm họa và rất phổ biến ở người cao tuổi.
Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) vừa chính thức phê duyệt Foundayo (hoạt chất orforglipron) – một loại thuốc uống thuộc nhóm GLP-1 dùng một lần mỗi ngày, giúp hỗ trợ giảm cân và duy trì cân nặng lâu dài ở người trưởng thành thừa cân, béo phì.
Tình dục không đơn thuần là hành vi mang tính bản năng hay phục vụ mục đích duy trì nòi giống, mà còn đóng vai trò cốt lõi trong việc chăm sóc sức khỏe toàn diện cho con người. Việc duy trì hoạt động tình dục đều đặn, lành mạnh mang lại hàng loạt tác động tích cực về cả thể chất lẫn tinh thần. Nhằm giúp bạn đọc có cái nhìn khoa học và đúng đắn hơn về chủ đề này, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin và phân tích chi tiết trong bài viết dưới đây.
Ve, muỗi, kiến lửa, bọ chét hay nhện độc... là những "vị khách không mời" quen thuộc trong sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt vào mùa mưa ẩm.
Một nghiên cứu công bố trên tạp chí PLOS Medicine cho thấy việc theo dõi sự thay đổi của các chỉ số xét nghiệm máu theo thời gian có thể giúp nhận diện nguy cơ ung thư sớm hơn so với việc chỉ đánh giá kết quả của một lần xét nghiệm.
Đột quỵ là biến cố cấp tính nguy hiểm xảy ra khi dòng máu nuôi não bị tắc nghẽn hoặc bị gián đoạn, khiến tế bào não bị hoại tử nhanh chóng. Nếu không được cấp cứu trong "thời gian vàng", bệnh có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề như liệt, rối loạn ngôn ngữ. Hiện nay, căn bệnh này đang có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt là ở nam giới. Nhằm giúp cộng đồng chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cốt lõi giúp nhận diện nguyên nhân và phòng ngừa đột quỵ hiệu quả.